Top » TIẾNG VIỆT » HỌC HỎI » NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P. 1
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P. 1

NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - PHẦN 1

Ðức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách

Giới thiệu

Một hiện tượng phổ biến rất rộng rãi, kêu gọi mãnh liệt đến lương tâm Cộng Ðồng Kitô hữu ngày nay, đó là ngày càng tăng số những phối hợp thực tại trong toàn xã hội, đưa tới sự không giữ tính cách vững bền hôn nhân. Giáo Hội không thể bỏ qua mà không rọi ánh sáng trên thực tại này khi phân biệt "những dấu chỉ của thời đại".

Ý thức được những ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội mục vụ này, Hội Ðồng Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia Ðình đã tổ chức một loạt những buổi họp nghiên cứu trong năm 1999 và trong những tháng đầu năm 2000. Một số nhân vật có tên tuổi và những chuyên viên danh tiếng từ khắp nơi trên thế giới đến tham dự, ngõ hầu phân tách vấn đề tế nhị này có tính siêu việt cả thể dường ấy đối với Giáo Hội và thế giới.

Tài liệu hiện nay là kết quả của sự nghiên cứu này. Tài liệu xét đến một vấn đề thời sự và khó khăn động tới chính trung tâm của những tương quan con người, tới cái phần tế nhị nhất của sự hiệp nhất thân tình giữa gia đình và sự sống, tới những lãnh vực nhạy cảm nhất của con tim nhân loại. Ðồng thời, do tính siêu việt công khai không thể chốùi cải của tình hình chính trị quốc tế hiện nay, điều nên làm và khẩn cấp phải làm là nói lên một lời hướng dẫn cách riêng cho những người có trách nhiệm trong lãnh vực này. Chính họ, trong nhiệm vụ lập pháp của mình, là những kẻ có khả năng tạo ra tính kiên định pháp lý cho thể chế hôn nhân hay là, ngược lại, dựa trên sự hiểu biết không xác thực về những vấn đề cá nhân, họ làm suy yếu tính kiên định của lợi ích chung bảo vệ thể chế tự nhiên này.

Những suy tư này cũng được gởi tới những vị mục tử, những người phải tiếp nhận và hướng dẫn rất nhiều người Kitô hữu ngày nay và đồng hành với họ cho tới chỗ biết thưởng thức giá trị tự nhiên được bảo vệ qua thể chế hôn nhân và được chuẩn nhận do bí tích Kitô giáo. Gia đình có nền tảng trên hôn nhân đáp ứng với kế đồ của Thiên Chúa "ngay từ đầu" (Mt 19, 4).

Trong Nước Chúa, nơi không hạt giống nào có thể được gieo trừ hạt giống chân lý đã được viết trong tim con người, một hạt giống duy nhất có khả năng "sinh hoa trái nhờ sự kiên định" (Lc 8, 15), chân lý này trở nên lòng thương xót, sự hiểu biết và một tiếng gọi công nhận nơi Chúa Giêsu "ánh sáng thế giới" (Ga 8, 12), và sức lực giải phóng khỏi những ràng buộc của sự dữ.

Tài liệu này cũng đề nghị góp phần tích cực vào việc đối thoại làm sáng tỏ chân lý về những việc này và về những đòi hỏi đến từ chính trật tự thiên nhiên, và cũng đề nghị tham gia vào sự tranh luận chính trị xã hội và vào trách nhiệm lo cho công ích.

Nguyện xin Chúa cho những suy tư sáng sủa và có trách nhiệm này, được rất nhiều người có thiện chí chia sẻ, góp phần vào thiện ích của cộng đồng sự sống này, cộng đồng cần thiết cho Giáo Hội và cho thế giới: gia đình.

Vatican City, 26.07.2000
Lễ thánh Gioakim và Anna, Song Thân của Ðức Rất Thánh Trinh Nữ Maria.

Hồng y Alfonso Lopez Trujillo, Chủ tịch
Giám mục Francisco Gil Hellin, Thư ký.
 

DẪN NHẬP

Những cái được gọi là "những phối hợp thực tại" (de facto unions) có tầm quan trọng đặc biệt trong những năm gần đây. Có những sáng kiến nài nỉ cho những kết hợp đó được thừa nhận theo thể chế và cũng được kể ngang hàng với các gia đình hình thành trong cam kết hôn nhân. Trước một vấn đề có tầm quan trọng như thế với bao nhiêu ảnh hưởng tương lai cho toàn thể cộng đồng nhân loại, Hội Ðồng Giáo Hoàng này, trong những suy tư sau đây, kêu gọi lưu ý tới sự nguy hiểm mà sự thừa nhận và sự cho ngang hàng thể đó, sẽ mang lại cho căn tính của sự hợp nhất hôn nhân, và làm như vậy sẽ mang lại hoạ lớn cho gia đình và cho ích chung xã hội.

Trong tài liệu này, sau khi cúu xét phương diện xã hội của những phối hợp thực tại, những yếu tố cấu thành ra nó, và những lý do hiện sinh của chúng, phải xét đến vấn đề cho các phối hợp thực tại được thừa nhận pháp lý và cho tính tương đương, trước hết về phương diện gia đình dựa trên hôn nhân, và rồi về phương diện xã hội toàn diện. Rồi tài liệu bàn về gia đình như là một giá trị xã hội, bàn về những giá trị khách quan cần nuôi dưỡng, và bàn tới trách nhiệm theo lẽ công bằng về phía xã hội phải bênh đỡ và thăng tiến gia đình thiết lập trên hôn nhân. Sau đó, một vài khía cạnh nổi lên trong tương quan với hôn nhân Kitô giáo, được nghiên cứu sâu rộng. Cũng trình bày một số tiêu chuẩn chung giúp việc nhận thức mục vụ cần thiết để hướng dẫn những cộng đồng Kitô hữu.

Những suy tư trình bày ở đây không những gởi cho những ai minh nhiên công nhận Giáo Hội Công Giáo là "Hội Thánh của Thiên Chúa Hằng Sống, cột trụ và điểm tựa của chân lý" (1 Tm 3, 15), nhưng cũng gởi cho tất cả mọi Kitô hữu thuộc nhiều Giáo Hội khác nhau và cho những cộng đoàn Kitô hữu, và cho tất cả những ai thật lòng dấn thân vì lợi ích quí báu của gia đình, tế bào cơ bản của xã hội. Công Ðồng Vatican II dạy, "Sự lành mạnh của con người cũng như của xã hội nhân loại và Kitô giáo liên kết chặt chẽ với tình trạng tốt đẹp của cộng đoàn hôn nhân và gia đình. Do đó, cùng với tất cả những ai tán dương các cộng đoàn hôn nhân và gia đình, người Kitô hữu thành thật vui mừng trước những trợ lực khác nhau giúp con người ngày nay tiến tới trong việc cổ võ cộng đoàn yêu thương ấy cũng như trong sự tôn trọng đời sống; những trợ lực ấy còn giúp đỡ các đôi vợ chồng và các bậc làm cha mẹ trong sứ mạng cao cả của họ". (1)

I. 'NHỮNG PHỐI HỠP THỰC TẠI'
Phương diện xã hội của những 'phối hợp thực tại'

2. Cụm từ "những phối hợp thực tại" bao gồm nguyên một loạt nhiều thực tại nhân bản hỗn tạp mà yếu tố chung là những hình thức sống chung (thuộc loại phái tính) không phải hôn nhân. Những phối hợp thực tại có đặc tính do sự kiện này là chúng không biết, hoãn lại, hay có khi loại trừ sự cam kết vợ chồng. Từ đó phát sinh nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Trong hôn nhân, qua khế ước tình yêu vợ chồng, tất cả mọi trách nhiệm phát sinh từ sự ràng buộc đã cam kết, được đảm nhiệm cách công khai.

Từ việc công khai nhận lãnh các trách nhiệm, phát sinh một lợi ích không những cho chính các đôi vợ chồng và cho con cái trong sự lớn mạnh về tình cảm và hình thành của chúng, nhưng cũng cho các thành phần khác của gia đình. Do đó, gia đình dựa trên hôn nhân, là một ích lợi cơ bản và quí giá cho toàn thể xã hội mà cơ cấu vững chắc nhất được xây dựng trên những giá trị phát triển trong các quan hệ gia đình và được bảo đảm bởi hôn nhân vững bền. Lợi ích sinh ra bởi hôn nhân là lợi ích nền tảng đối với Giáo Hội, nên Giáo Hội công nhận gia đình như là "Giáo Hội tại gia". (2) Tất cả những điều đó bị thiệt hại do việc từ bỏ thể chế hôn nhân, ẩn trong những sự phối hợp thực tại.

3. Một số người có thể muốn sử dụng hay có thể sử dụng tính dục theo một duờng lối khác với đường lối Chúa đã ghi trong bản tính nhân loại và trong cùng đích đặc biệt nhân bản của các tác động của họ. Ðiều này đi ngược với ngôn ngữ liên vị của tình yêu và làm nguy hại đến, qua một sự rối loạn khách quan, sự đối thoại đích thực của sự sống mà Ðấng sáng tạo và cứu chuộc nhân loại muốn có. Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo rất được dư luận công chúng biết, và không cần phải lặp lại ở đây. (3) Chính chiều kích xã hội của vấn đề đòi hỏi phải suy nghĩ nhiều hơn và cho phép chỉ rõ, cách riêng cho những ai có trách nhiệm công cộng, sự không thích hợp nâng cao những hoàn cảnh riêng tư này lên hàng quan trọng công cộng. Lấy lẽ điều hoà một khung cảnh chung sống có tính xã hội và pháp lý, người ta cố gắng biện hộ việc thừa nhận như thể chế những kếùt hợp sự kiện. Làm như vậy, những kếùt hợp sự kiện sẽ trở thành một thể chế, và luật pháp sẽ chuẩn y các quyền lợi và bổn phận của chúng, có hại cho gia đình xây dựng trên hôn nhân. Những phối hợp thực tại có thể được đặt trên bình diện giống như hôn nhân; hơn nữa, cách sống chung này có thể được đánh giá như một "điều thiện" vì đưa nó lên tới điều kiện giống hay tương đương với hôn nhân, có hại cho chân lý và công lý. Như vậy, người ta sẽ hợp lực phá vỡ thể chế tự nhiên hôn nhân, một thể chế tuyệt đối quan trọng, cơ bản và cần thiết cho toàn khối xã hội.

Những yếu tố cấu tạo cho những phối hợp thực tại

4. Không phải tất cả những phối hợp thực tại có cùng một tầm quan trọng hay cùng một mục đích. Khi diễn tả những đặc điểm tích cực của chúng, ở trên và ngoài nét chung tiêu cực của chúng là hoãn lại, không biết hay loại trừ sự hợp nhất hôn nhân, thì phát sinh một số yếu tố. Truớc hết, chỉ có đặc điểm thuần việc quan hệ. Nên chỉ rõ rằng những kết hợp kiểu đó gồm có sự sống chung kể luôn một sự quan hệ tình dục (điều này phân biệt chúng với những hình thức sống chung khác), và một xu hướng tương đối tới chỗ vững bền (điều này phân biệt chúng với những hình thức sống chung thỉnh thoảng hay khi có dịp). Những phối hợp thực tại không gồm có những quyền lợi và trách nhiệm vợ chồng, và không giả định có sự vững bền đặt nền tảng trên sự ràng buộc hôn nhân. Ðặc điểm của những kết hợp đó là chúng xác nhận mạnh mẽ không chịu lấy một trói buộc nào. Sự không vững bền liên tục do khả năng chấm dứt sự sống chung, dĩ nhiên là một đặc điểm của những phối hợp thực tại. Cũng có một "cam kết" nào đó nhiều hay ít minh nhiên "trung thành với nhau", nói được như vậy, bao lâu quan hệ đó kéo dài.

5. Một số phối hợp thực tại rõ ràng là hậu quả của một lựa chọn quyết định. Những kết hợp "thử nghiệm" thường xảy ra giữa những người tính kết hôn trong tương lai, nhưng với điều kiện là họ kinh nghiệm một sự chung gối mà không một ràng buộc hôn nhân. Ðây là một loại "giai đoạn có điều kiện" để kết hôn, giống như hôn nhân "thí nghiệm" (4), nhưng khác, vì giả định được xã hội thừa nhận phần nào đó.

Một số người khác sống chung với nhau biện minh sự lựa chọn này vì những lý do kinh tế hay là muốn tránh những khó khăn pháp lý. Những lý do thực sự thường sâu xa hơn nhiều. Khi sử dụng kiểu cớù thoái thoát này, thường có một ẩn ý coi rẻ bản năng sinh dục. Ðiều này bị ảnh hưởng nhiều hay ít bởi chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa khoái lạc, cũng như bởi quan niệm về tình yêu tách rời khỏi mọi trách nhiệm. Người ta cam kết tránh sự bền vững, những trách nhiệm, và những quyền lợi cũng như những bổn phận mà tình yêu hôn nhân thực sự bao gồm. Trong những trường hợp khác, những phối hợp thực tại được hình thành bởi những người đã ly dị trước kia và như thế những kết hợp đó thay thế cho hôn nhân. Do luật pháp cho phép ly dị, hôn nhân thường có khuynh hướng mất căn tính của nó trong lương tâm con người. Theo nghĩa này, ta thấy rõ sự thiếu tin tưởng vào thể chế hôn nhân, sự thiếu tin tưởng đó thỉnh thoảng phát sinh từ kinh nghiệm tiêu cực của những người đau buồn vì một sự ly dị trước kia hay là vì sự ly dị của cha mẹ họ. Hiện tượng đau buồn này khởi sự trở nên quan trọng từ quan điểm xã hội trong các nước mở mang hơn về mặt kinh tế.

Ðiều không hiếm là những người sống chung trong một phối hợp thực tại, huỷ bỏ hôn nhân vì những lý do ý thức hệ được biết cách minh nhiên. Nên đó là sự lựa chọn một cái để thay thế, một cách nào đó để sống bản năng tình dục của mình. Những người này coi hôn nhân như là điều phải loại bỏ, là điều nghịch với ý thức hệ của họ, một "hình thức không thể chấp nhận lạm dụng hạnh phúc cá nhân", hay là có khi như "mồ chôn tình yêu say đắm", những kiểu nói chứng tỏ sự thiếu hiểu biết về bản tính thật sự của tình yêu và hy sinh nhân bản, và của sự cao trọng và vẻ đẹp của sự kiên trì và trung tín trong những tương quan con người.

6. Những phối hợp thực tại không phải luôn là hậu quả của một sự lựa chọn tích cực và sáng suốt. Có khi những người sống với nhau trong những kết hợp này, chứng tỏ mình dung túng hoặc chịu đựng hoàn cảnh này. Trong một vài nước, số ngày càng tăng những phối hợp thực tại là do sự bất mãn đối với hôn nhân, không phải vì những lý do ý thức hệ, nhưng vì thiếu sự đào tạo xứng hợp trong trách nhiệm, sự thiếu hụt đó là sản phẩm của sự nghèo đói và sự bị gạt ra bên lề môi trường sống của họ. Sự thiếu tin tưởng vào hôn nhân, dầu sao, cũng có thể là do gia đình quyết định, nhất là trong thế giới thứ ba. Ưu thế văn hoá của những thái độ anh hùng tính hay dân tộc tính đi đôi với nhau và làm trầm trọng rất nhiều hoàn cảnh khó khăn này.

Trong những trường hợp này, thường gặp những phối hợp thực tại mà, từ đầu, trên nguyên tắc, hai bên muốn có một đời sống chung đích thực, coi mình kết hợp như vợ chồng, và ra sức hoàn thành những ràng buộc giống như trong hôn nhân. (5) Sự nghèo đói, thường là hậu quả của những mất quân bình trong trật tự kinh tế thế giới và thiếu giáo dục cơ bản, (sự nghèo đói) đặt ra những chướng ngại nghiêm trọng không để họ thành lập một gia đình thật sự.

Trong những nơi khác, sự sống chung (qua những khoảng thời gian lâu hay ít kéo dài) là thường xuyên cho tới khi thụ thai và sinh con đầu tiên. Những tập quán này theo những thực hành từ tổ tiên và truyền thống, những thực hành rất mạnh trong một số vùng Châu Phi và Châu Á và liên hệ với cái gọi là "hôn nhân theo giai đoạn". Những thực hành này nghịch với phẩm giá con người, khó mà triệt tiêu, và tạo nên một hoàn cảnh luân lý tiêu cực với vấn đề xã hội có đặc tính riêng và định rõ. Loại kết hợp này không thể đồng hoá với những phối hợp thực tại mà chúng ta đang đề cập tới ở đây (những phối hợp hình thành trên bờ một thứ nhân loại học có văn hoá), và nêu lên một thách đố cho việc hội nhập đức tin trong Ngàn Năm Thứ Ba của kỷ nguyên Kitô giáo.

Có thể thấy rõ tính phức tạp và tính đa dạng của vấn đề các phối hợp thực tại nếu chúng ta công nhận, ví dụ, trong vài trường hợp nguyên nhân trực tiếp nhất của chúng có thể liên hệ tới những hệ thống an ninh và hạnh phúc xã hội. Ví dụ, đây là trường hợp trong những hệ thống phát triển nhất nơi những người lớn tuổi hình thành những phối hợp thực tại, bởi vì họ sợ rằng hôn nhân sẽ bao gồm những gánh nặng thuế má hay là sự mất trợ cấp.

Những lý do cá nhân và nhân tố văn hoá

7. Ðiều quan trọng là nêu vấn nạn về những nguyên nhân sâu xa tại sao nền văn hoá hiện nay đang chứng kiến một sự khủng hoảng trong hôn nhân, trong cả hai chiều kích tôn giáo và dân sự, và tại sao có sự cố gắng giành được sự công nhận và sự tương đương cho những phối hợp thực tại. Như vậy, những hoàn cảnh bất ổn, được xác định do những phương diện tiêu cực của chúng (sự bỏ qua hôn nhân) hơn là do những đặc tính tích cực của chúng, (những hoàn cảnh đó) xem ra ở trong cấp bậc giống như hôn nhân. Trên thực tế, tất cả những hoàn cảnh này được củng cố trong nhiều loại quan hệ, nhưng tất cả đều trái ngược với sự hiến mình thật sự và tương quan trọn vẹn, điều bền vững và được xã hội thừa nhận. Trong một bối cảnh của sự tư nhân hoá tình yêu và của sự loại trừ đặc tính qui chế của hôn nhân, sự phức tạp của những lý do kinh tế, xã hội và tâm lý gợi ý sự cần thiết nghiên cứu kỹ khung cảnh mà trong đó hiện tượng những phối hợp thực tại, như chúng ta biết ngày nay, ngày càng lớn mạnh và trở nên vững chắc.

Sự giảm sút tư øtừ trong hôn nhân và gia đình được thừa nhận bởi luật pháp các Quốc Gia khác nhau, và trong một số nước sự gia tăng số cặp không kết hôn mà sống chung với nhau, thì không thể giải thích đầy đủ như là một phong trào văn hoá biệt lập và tự nguyện. Xem ra đó là một giải đáp cho những thay đổi lịch sử ở xã hội trong phong trào văn hoá hiện nay mà một số tác giả diễn tả như là "hậu chủ nghĩa hiện đại". Ðiều chắc chắn là ảnh hưởng giảm thiểu của thế giới nông nghiệp, sự phát triển lãnh vực thứ ba về kinh tế, sự gia tăng mức sống trung bình, sự bất ổn về việc làm và những quan hệ cá nhân, sự sút giảm những thành phần gia đình sống dưới cùng một mái nhà, và sự toàn cầu hoá những hiện tượng xã hội và kinh tế, đã làm phát sinh sự bất ổn to lớn trong các gia đình và thuận theo lý tưởng có một gia đình nhỏ hơn. Nhưng điều đó đủ để giải thích hoàn cảnh hiện nay của gia đình không ? Qui chế hôn nhân ít bị khủng hoảng hơn nơi nào truyền thống gia đình còn mạnh.

8. Trong quá trình có thể được diễn tả như là sự phá hoại từ từ có tính văn hoá và nhân bản đến qui chế hôn nhân, sự phổ biến một ý thức hệ gọi là "gender, giống" không nên bị coi thường. Theo ý thức hệ này, làm con người nam hay người nữ thì cách cơ bản không do phái tính nhưng do văn hoá. Do đó, chính những nền tảng của gia đình và những liên hệ liên vị bị đả kích. Phải quan tâm về phương diện này bởi vì tầm quan trọng của ý thức hệ này trong nền văn hoá hiện nay, và vì ảnh hưởng của nó trên hiện tượng các sự phối hợp thực tại.

Trong những động lực có tính hội nhập thuộc về nhân cách, một nhân tố rất quan trọng là căn tính. trong lúc còn bé và trưởng thành, một con người từ từ ý thức về hữu thể "nó -him/herself", một ý thức về chính căn tính của nó. Sự kiện này được hội nhập vào trong một quá trình công nhận hữu thể của mình và, do đó, công nhận chiều kích phái tính của hữu thể mình. Cho nên đó là sự ý thức về căn tính và sự khác biệt. Những chuyên viên thường hay phân biệt giữa căn tính phái tính (nghĩa là, sự ý thức về căn tính tâm sinh lý của một phái, và sự khác biệt đối với phái khác), và căn tính giống loài (generic identity) (nghĩa là, sự ý thức về căn tính có tính tâm lý xã hội và văn hoá thuộc vai trò mà những người của một phái tính nhất định phải thi hành trong xã hội). Trong một quá trình hội nhập đúng đắn và hài hoà, căn tính phái tính và giống loài bổ sung cho nhau bởi vì những con người sống trong một xã hội theo những phương diện văn hoá phù hợp với phái tính của mình. Loại căn tính giống loài "gender", do đó, có bản tính tâm lý xã hội và văn hoá. Nó phù hợp và hài hoà với căn tính phái tính thuộc bản tính tâm sinh lý, khi sự hội nhập của nhân cách được trọn vẹn tức làï công nhận sự đầy đủ về sự thật nội tại con người, sự duy nhất về thể xác và linh hồn.

Khởi đầu từ thập niên giữa 1960-1970, nhiều lý thuyết (ngày nay thường được các chuyên viên diễn tả như "người giải thích pháp luật, constructionist" chủ trương không những căn tính phái tính giống loại ("gender") là sản phẩm của một tác động qua lại giữa tập thể và cá nhân, nhưng căn tính giống loại này là độc lập với căn tính phái tính nhân vị: nghĩa là, những giống đực và cái trong xã hội là sản phẩm độc chiếm của các nhân tố xã hội, không liên hệ tới sự thật nào về chiều kích phái tính của con người. Như vậy, bất cứ thái độ phái tính nào đều có thể được biện minh, kể cả sự đồng tính tính luyến ái, và chính xã hội phải thay đổi để bao gồm những giống khác, cùng chung với giống đực và giống cái, theo cách thức của nó để hình thành đời sống xã hội. (6)

Ý thức hệ về "giống" gặp được môi trường thuận lợi trong nhân loại học cá nhân thuộc chủ nghĩa tân-tự-do (neoliberalism). (7) Sự đòi hỏi có một qui chế tương tự cho hôn nhân và những phối hợp thực tại (gồm những phối hợp đồng tính) ngày nay thường được biện minh trên cơ sở những phạm trù và những thuật ngữ lấy từ ý thức hệ "giống". (8) Như vậy, có xu hướng lấy danh "gia đình" đặt cho hết thảy những kiểu phối hợp đồng thuận, mà không biết khuynh hướng tự nhiên của sự tự do con người là trao thân cho nhau và không biết những đặc tính thiết yếu của nó, những đặc tính làm nền tảng của lợi ích chung cho nhân loại, của qui chế hôn nhân.
 

II. GIA ÐÌNH XÂY DỰNG TRÊN HÔN NHÂN VÀ NHỮNG PHỐI HỠP THỰC TẠI

Gia đình, sự sống và những phối hợp thực tại

9. Ðiều hữu ích là hiểu được những khác biệt thiết yếu giữa hôn nhân và những phối hợp thực tại. Ðó là căn nguyên sự khác biệt giữa gia đình phát sinh từ hôn nhân, và cộng đồng phát sinh trong sự phối hợp thực tại. Cộng đồng gia đình xuất phát từ khế ước kếùt hợp vợ chồng. Hôn nhân xuất phát từ khế ước tình yêu vợ chồng không phải do một thẩm quyền công cộng nào xây dựng: nó là một cơ chế tự nhiên và nguyên gốc có trước. Ðàng khác, trong những phối hợp thực tại, tình yêu nhau thì có chung, nhưng cùng một lúc, không có được giây hôn nhân với chiều kích công khai nguyên gốc của nó, làm nền tảng cho hôn nhân. Gia đình và sự sống làm thành một đơn vị thật phải được xã hội bênh vực, bởi vì đó là hạt nhân sống của việc tiếp tục (sinh sản và giáo dục) những thế hệ nhân bản.

Trong những xã hội dân chủ và cởi mở ngày nay, nhà nước và thẳm quyền công khai không nên thiết lập thành tục lệ những phối hợp thực tại, vì làm vậy là cho nó một quy chế giống như hôn nhân và gia đình, cũng không nên biến nó thành tương đương với gia đình có nền tảng trên hôn nhân. Ðiều đó sẽ là một sự tự ý sử dụng quyền hành không góp phần vào công ích bởi vì bản tính nguyên thuỷ hôn nhân và gia đình tiến hành và vượt quá, cách tuyệt đối và triệt để, quyền hành tối cao của Quốc gia. Một viễn ảnh vô tư sáng suốt tự do đối với những lập trường độc đoán hay mị dân, kêu mời chúng ta suy nghĩ rất nghiêm chỉnh trong những cộng đồng chính trị, về những khác biệt giữa sự đóng góp quan trọng và cần thiết cho ích chung của gia đình thiết lập trên hôn nhân, và thực tại khác hiện hữu trong những hình thức sống chung thuần tình cảm. Ðiều xem ra không hợp lý là chủ trương rằng những nhiệm vụ quan trọng của các cộng đồng gia đình, mà hạt nhân là cơ chế bền vững và một vợ một chồng của hôn nhân, có thể thực hiện một cách qui mô rộng, bền lâu và vĩnh viễn bởi những hình thức sống chung thuần tình cảm. Gia đình thiết lập trên hôn nhân phải được bênh vực cẩn thận và cổ võ như là nhân tố thiết yếu cho đời sống xã hội, cho sự bền vững và an bình, qua một cái nhìn xa mở rộng đến ích chung xã hội.

10. Sự bình đẳng trước pháp luật phải tôn trọng nguyên lý phép công bằng, nghĩa là cư xử với những cái bình đẳng cách bình đẳng, và với cái khác biệt cách khác biệt: nghĩa là, phải trao cho mỗi người điều thuộc về họ theo phép công bằng. Nguyên lý phép công bằng này sẽ bị xúc phạm nếu những phối hợp thực tại được đối xử về mặt pháp lý y như hay là bằng với gia đình thiết lập trên hôn nhân. Nếu gia đình dựa trên hôn nhân và những phối hợp thực tại không giống nhau cũng không tương đương trong các bổn phận, các trách nhiệm và các phục vụ giữa xã hội, bấy giờ chúng không thể giống hay hay tương đương nhau theo qui chế pháp lý của chúng.

Cái cớ dùng gây sức ép bắt nhìn nhận những phối hợp thực tại (nghĩa là, sự không kỳ thị chúng nó) bao hàm một kỳ thị thật sự chống lại gia đình dựa trên hôn nhân, bởi vì gia đình bị coi ở cấp bậc ngang với bất cứ hình thức sống chung nào khác, không để ý đến sự có hay không một cam kết trung tín với nhau và sinh sản và nuôi nấng con cái. Chiều hướng của một số cộng đồng chính trị ngày nay muốn kỳ thị hôn nhân bằng cách ban cho những phối hợp thực tại một địa vị cơ chế giống như hay có khi bằng hôn nhân và gia đình, (chiều hướng đó) là một dấu chỉ của sự suy sụp hiện nay trong lương tâm luân lý xã hội, của "tư tưởng yếu" đối với công ích, khi nó không phải là một sự áp đặt có tính ý thức hệ đúng thật do các nhóm áp lực quyền thế gây nên.

11. Cũng nói trên các nguyên lý, nên ghi nhớ sự khác biệt giữa sự quan tâm công khai và riêng tư. Ðối với sự quan tâm công khai, xã hội và công quyền phải bênh vực và khuyến khích nó; còn đối với sự quan tâm riêng tư, Nhà Nước chỉ phải bảo đảm quyền tự do. Bất cứ lúc nào xảy ra một việc thuộc quan tâm công, pháp luật công can thiệp, và ngược lại, cái gì ứng đối với quan tâm riêng tư, thì phải giao cho lãnh vực tư. Hôn nhân và gia đình thuộc quan tâm công; là hạt nhân cơ bản của xã hội và quốc gia, nên phải được nhìn nhận và bênh vực như thế đó. Hai hay nhiều người hơn có thể chấp thuận sống chung với nhau, với hay không chiều kích phái tính, nhưng sự sống chung này không vì đó mà thuộc về quan tâm chung. Công quyền không vì thế mà vây mình vào trong sự lựa chọn riêng tư này. Những phối hợp thực tại là hậu quả của cách đối xử riêng tư và phải giữ ở trong mức độ riêng tư. Công khai nhìn nhận chúng hay là cho chúng ngang hàng với hôn nhân và do đó cất nhắc chúng từ sự quan tâm riêng tư tới sự quan tâm công, làm thiệt hại gia đình dựa trên hôn nhân. Trong hôn nhân một người đàn ông và một người đàn bà tạo thành một cộng đồng toàn bộ sự sống tự nó hướng về lợi ích của vợ chồng và sự sinh sản và giáo dục con cái. Trong hôn nhân, khác với những phối hợp thực tại, những cam kết và những trách nhiệm được bày tỏ công khai và chính thức, những thứ đó thích hợp cho xã hội và đáng được đòi hỏi trong bối cảnh luật pháp.


This article was published on Monday 14 December, 2009.

Back to main topic: HỌC HỎI
ĐỔ VỞ TRONG GIA Đ̀NH
KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI SỐNG GIA Đ̀NH
ĐỨC TIN VÀ SỰ CHUNG THỦY
HIỆP NHẤT TÔN GIÁO NƠI GIA Đ̀NH
HIỆP NHẤT TRONG LƯ TƯỞNG
VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH TRONG HÔN NHÂN
GIÁO DỤC CON CÁI
VAI TR̉ NGƯỜI CHỒNG TRONG GIA Đ̀NH
VAI TR̉ NGƯỜI VỢ TRONG GIA Đ̀NH
MỘT TƯ TƯỞNG B̀NH DÂN VỊÊT NAM VN
CHỮ T̀NH VÀ CHỮ YÊU
GIA Đ̀NH VỊÊT NAM QUA BỮA ĂN
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.4
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.3
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.2
MỤC ĐÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN
TU ĐỨC TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA Đ̀NH
SỐNG ĐẠO TRONG GIA Đ̀NH
MƯỜI ĐIỀU BẢO VỆ HẠNH PHÚC GI
NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ TAN VỠ TRONG GIA
HÔN NHÂN TRONG Ư CHÚA
LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG B̀NH THƯỜN
T̉A ÁN HÔN PHỐI
NHỮNG NGĂN TRỞ KHIẾN MỘT HÔN PHN
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
ĐẶC ÂN THÁNH PHAOLÔ

Current Reviews: 0
Write Review
Tell a friend
Tell a friend about this article:  

 
 

Articles
New Articles
All Articles
All Topics
 ABOUT FR. LINH
 ENGLISH -> (266)
 ESPAÑOL -> (274)
 TIẾNG VIỆT -> (540)
 H.Y. NG. VĂN THUẬN
 Đ.C. NG. VĂN NHO
Articles RSS Feed

Quick Find