Top » TIẾNG VIỆT » HỌC HỎI » NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.2

NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - PHẦN 2

Ðức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách

 Những phối hợp thực tại và giao ước vợ chồng

12. Việc đánh giá những phối hợp thực tại cũng bao gồm một chiều kích chủ quan: những phối hợp đó được hình thành bởi những con người cụ thể với cái nhìn riêng của họ về sự sống, với những ý riêng của họ, nói tắt, với "lịch sử" của họ. Chúng ta phải xem xét thực tại hiện sinh của sự tư do cá nhân trong việc lựa chọn và xem xét phẩm giá của những người có thể sống trong sai lầm. Nhưng trong môt sự phối hợp thực tại, sự đòi hỏi được nhìn nhận công khai không những là ảnh hưởng tới lãnh vực tự do cá nhân, và do đó cần phải xét đến vấn đề này từ quan điểm đạo đức xã hội: cá nhân con người là một nhân vị và do đó, có tính xã hội; một hữu thể nhân bản không có ytính xã hội kém hơn là có lý trí. (9)

Những con người có thể gặp và qui chiếu về những giá trị và nhu cầu được chia sẻ đối với công ích trong đối thoại. Ðiểm đối chiếu phổ quát, tiêu chuẩn trong lãnh vực này, có thể không gì khác hơn là chân lý về thiện ích nhân bản, thiện ích này có tính khách quan, siêu viêt va bình đẳng cho mọi ngươi. Ðạt tới chânï lý này và ở lại trong đó, là một điều kiện được tự do và trưởng thành cá nhân, và là điều kiện để đạt mục tiêu thật của một cuộc sống chung xã có rật tự và hiệu quả. Chỉ quan tâm đến chủ thể, đến cá nhân. đến những ý tưởng và lựa chọn của họ, mà không qui chiếu về chiều kích xã hội và khách quan hướng về công ích, đó là hậu quả của chủ nghĩa cá nhân độc đón và không thể chấp nhận được, một chủ nghĩa đui mù đối với những giá trị khách quan, chống lại phẩm giá con người, và gây hại cho trật tự xã hội. "Do đó, cần khuyến khích một sự suy nghĩ sẻ giúp không những những kẻ tin mà mọi người có thiện chí khám phá giá trị hôn nhân và gia đình. Trong sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, chúng ta có thể đọc: "Gia đình là tế bào căn bản của đới sống xã hội, là xã hội tự nhiên, nơi đó người nam va người nhữ được mời gọi tận hiến cho nhau trong tình yêu và trong việc thông truyền sự sống. Quyền bính, sự ổn định và đời sống tương giao nơi gia đình là nền tảng cho tự do, an ninh và tình huynh đệ của xã hội. (10) Nếu lý trí nghe luật luân lý viết trong tim con người, nó có thể đi tới chỗ khám phá ra gia đình. Là một cộng đồng dựa trên và được tươi sáng bởi tình yêu, (11) gia đình nhận được sức mạnh của mình từ khế ước dứt khoát tình yêu, nhờ đó một người nam và một người nữ hiến thân mình cho nhau và cùng nhau trở nên những kẻ cộng tác của Chúa trong ân ban sự sống". (12)

Công Ðồng Vatican 2 nói rõ rằng tình yêu được gọi là tự do ("amore sic dicto libero") tạo ra một nhân tố bẻ gãy và tiêu huỷ hôn nhân bởi vì thiếu nhân tố cấu tạo tình yêu vợ chồng, thứ tình yêu dựa trên sự đồng thuận cá nhân và không thể thu hồi, qua đó các cặp vợ chồng trao hiến và nhận lãnh nhau, làm nổi lên một sự ràng buộc và một đơn vị được đóng ấn bởi chiều kích công khai thuộc công lý. Ðiều mà Công Ðồng gọi là tình yêu "tự do", đối nghịch với tình yêu vợ chồng thật sự, đã là - và như bây giờ - là hạt giống sinh những phối hợp thực tại. Sau này, với tốc độ của những thay đổi văn hoá xã hội ngày nay, nó làm nẩy ra những dự án hiện hành đưa ra qui chế công khai cho các phối hợp thực tại.

13. Cũng như tất cả mọi vấn đề nhân bản khác, vấn đề những phối hợp thực tại cũng phải được xét đến từ viễn ảnh lý trí, nói chính xác hơn, từ "lý trí đúng đắn". (14) Với từ ngữ này trong khoa đạo đức cổ điển, nên nhấn mạnh rằng sự giải thích thực tại và sự xét đoán của lý trí phải có tính khách quan, và tự do không điều kiện ràng buộc, như tính xúc động rối loạn hay thiếu việc xem xét những hoàn cảnh đáng buồn nghiên về một loại trắc ẩn nông cạn, những thiên kiến ý thức hệ ngẫu nhiên, những áp lực xã hội và văn hoá, qui định bởi nhóm vận động viên hay những phe phái chính trị. Dĩ nhiên, người Kitô hữu có một cái nhìn về hôn nhân và gia đình mà nền tảng nhân loại học và thần học bén rễ cách hài hoà trong chân lý đến từ Lời của Thiên Chúa, Truyền thống và Huấn quyền của Giáo Hội. (15) Nhưng ánh sáng của chính đức tin dạy rằng thực tại của bí tích Hôn Phối không phải là một cái gì theo sau hay ngoại diện, hay đúng là một sự thêm ngoại diện "có tính bí tích" cho tình yêu vợ chồng; đó là thực tại tự nhiên của tình yêu vợ chồng Chúa Kitô đã dùng làm một dấu và phương tiện cứu rỗi trong Luật Mới. Do đó, vấn đề những phối hợp thực tại có thể và phải được nhận diện từ quan điểm của lý trí đúng đắn. Ðó không nhất thiết phải là một vấn đề của đức tin Kitô giáo nhưng của lý trí. Khuynh hướng đối nghịch kiểu nói "tư tưởng Công giáo " (Catholic thought) trong vấn đề này, với kiểu nói "tư tưởng ngoài" (lay thought) là "sai lầm".
 

III. NHỮNG PHỐI HỠP THỰC TẠI TRONG TOÀN THỂ XÃ HỘI

Chiều kích xã hội và chính trị của vấn đề tương đương

14. Một số ảnh hưởng văn hoá cấp tiến (như ý thức hệ về 'giống', mà chúng ta đã nói ở trên) phát sinh hậu quả làm hại cho cơ chế hôn nhân. "Ðiều đáng đau buồn hơn nữa là sự trực tiếp đả kích cơ chế hôn nhân, đang lan rộng trong cả những lãnh vực văn hoá và chính trị, lập pháp và hành pháp .. Rõ ràng có khuynh hướng biến gia đình ngang hàng với những hình thức rất khác biệt khác về sự sống chung, không kể gì tới những sự xem xét căn bản của một trật tự đạo đức và nhân loại". (17) Do đó, định nghĩa căn tính gia đình là một ưu tiên. Giá trị của và sự cần thiết cho sự ổn định trong sự tương giao hôn nhân giữa một người nam và một người nữ là thích đáng cho căn tính này, và sự ổn định này được diễn tả và củng cố trong một viễn tượng sinh sản và nuôi dưỡng con cái, điều này có lợi cho toàn thể cơ cấu xã hội. Một sự ổn định hôn nhân và gia đình như thế không những tùy thuộc vào thiện chí của những con người cụ thể; nó nhận lấy một đặc tính cơ chế về phía Nhà Nước nhìn nhận công khai sự lựa chọn đời sống hôn nhân. Nhìn nhận, bảo vệ và khuyến khích sự ổn định này góp phần vào quyền lợi chung, cách riêng của những kẻ yếu kém nhất, đó là những trẻ em.

15. Một nguy hiểm khác trong việc xem xét về mặt xã hội của vấn đề liên can đến chúng ta, là sự tầm thường hoá nó. Một số người khẳng định rằng sự nhìn nhận và sự cho ngang hàng những phối hợp thực tại, không gây ra sự quan tâm quá mức bởi vì số những trường hợp này tương đối nhỏ. Dầu sao đi nữa, nếu có trường hợp như vậy, thì có thể xảy ra điều ngược lại bởi vì một sự suy xét số lượng của vấn đề phải làm người ta nghi ngờ sự thích hợp đưa vấn đề các phối hợp thực tại lên tới một vấn đề quan trọng hàng đầu, cách riêng nơi nào sự chú ý tương đương chỉ dành cho vấn đề quan trọng (cả về hiện tại và tương lai) là bảo vệ hôn nhân và gia đình qua những chính sách gia đình tương đương thâït sự ảnh hưởng tới đời sống xã hội. Sự đề cao không phân biệt về sự tự do lựa chọn của các cá nhân, mà không qui chiếu về trật tự của giá trị thích hợp về mặt xã hội, tuân theo sự tiếp cận hôn nhân và gia đình một cách hoàn toàn cá nhân và riêng tư, cách tiếp cận đó không để ý gì tới chiều kích xã hội khách quan. Phải lưu ý sự sinh sản là một nguyên lý "phát sinh" xã hội, và sự nuôi dưỡng con cái là chỗ tốt nhất để truyền sang và tu dưỡng cấu trúc xã hội cũng như hạt nhân thiết yếu của hình dạng cơ cấu của nó.

Sự nhìn nhận và sự tương đương của các phối hợp thực tại phân biệt với hôn nhân

16. Qua sự nhìn nhận công khai các phối hợp thực tại, một khung ảnh pháp lý không đối xứng được thiết lập. Khi xã hội muốn lãnh trách nhiệm đối với những thành viên trong các phối hợp thực tại, thì họ lại không muốn nhận lãnh những ràng buộc thiết yếu đối với xã hội, những ràng buộc thích đáng với hôn nhân. Cho những phối hợp đó tính tương đương là làm trầm trọng thêm hoàn cảnh này bởi vì dành cho những phối hợp đó sự tôn trọng như đối với hôn nhân, mà lại chuẩn chước chúng khỏi làm trọn những bổn phận đối với xã hội. Bằng cách này, có sự phân ra nghịch lý chung cuộc gây hại cho cơ chế gia đình. Ðối với những cố gắng mớùi đây của ngành lập pháp thừa nhận gia đình và những phối hợp là tương đương, kể cả những phối hợp đồng tính luyến ái (nên nhớ rằng nhìn nhận chúng trên mặt pháp lý là bước đầu tới việc cho chúng chế độ tương đương), thì các thành viên Quốc Hội phải nhớ mình có trọng trách chống lại chúng, vì "những nhà làm luật và cách riêng những thành viên Công Giáo trong Quốc Hội, không được bỏ phiếu ủng hộ kiểu làm luật này, bởi vì điều này nghịch với công ích và chân lý đối với con người và như vậy là thật bất chính", (18) Những sáng kiến luật pháp này mang tất cả những đặc điểm của sự không hợp với luật tự nhiên, những đặc điểm đó làm cho những sáng kiến ấy không xứng hợp với giá trị luật. Như thánh Augutinô nói, "Xem ra không phải là luật, nếu luật không chính đáng". (19) Một nền tảng chủ yếu của hệ thống pháp luật phải được thừa nhận. (20). Ðiều này không có nghĩa là muốn áp đặt một cách cư xử "kiểu mẫu" trên toàn thể xã hội, nhưng đúng hơn đưa ra sự bắt buộc về mặt xã hội phải nhìn nhận, bằng hệ thống luật, sự đóng góp cần thiết của gia đình dựa trên hôn nhân vì công ích. Bất cứ nơi nào gia đình bị khủng hoảng, thi xã hội sụp đổ.

17. Gia đình có quyền được bảo vệ và khuyến khích bởi xã hội, như nhiều Hiến pháp hiện hành trong các quốc gia trên khắp thế giới thừa nhận. (21) Ðây là sự thừa nhận trong công lý về nhiệm vụ thiết yếu mà gia đình dựa trên hôn nhân phải thi hành đối với xã hội. Một nhiệm vụ xã hội, không phải luân lý mà thôi nhưng cũng có tính dân sự, đáp ứng với quyền nguyên thuỷ của gia đình. Quyền của gia đình dựa trên hôn nhân được xã hội và quốc gia bảo vệ và khuyến khích, phải có luật thừa nhận. Ðây là một vấn đề ảnh hưởng đến công ích. Với một luận chứng sáng sủa, thánh Thomas Aquinô loại bỏ tư tưởng cho luật luân lý và luật dân sự có thể đối nghịch nhau: các luật đó là khác biệt nhưng không đối nghịch nhau; cả hai đều khác biệt nhau, nhưng không tách rời khỏi nhau; giữa các luật đó không có sự duy nhất cũng không có sự đối nghịch. (22) Như Ðức Gioan Phaolô phát biểu: "Ðiều cần thiết là tất cả những ai được kêu gọi hướng dẫn vận mạng các quốc gia, phải công nhận và tăng cường cơ chế hôn nhân; trên thực tế, hôn nhân có một qui chế pháp lý riêng biệt nhìn nhận những quyền lợi và bổn phận của vợ chồng đối với nhau và đối với con cái, và các gia đình đóng một vai trò thiết yếu trong xã hội, bảo đảm tính cố định xã hội. Gia đình nuôi dưỡng sự xã hội hoá giới trẻ và giúp kiềm chế những hiện tượng bạo tàn bằng cách truyền sang những giá trị và kinh nghiệm của tình huynh đệ và liên đới sẽ biến thành một hiện thực mỗi ngày. Khi tìm kiếm những giải pháp đúng đắn trong xã hội ngày nay, gia đình không thể bị đặt trong cùng một cấp bậc như những hiệp hội hay là những phối hợp thuần khiết, và những phối hợp đó không thể hưởng những đặc quyền liên hệ riêng biệt với việc bảo vệ giao ước hôn nhân và gia đình dựa trên hôn nhân, một cộng đồng bền vững của sự sống và tình yêu, hậu quả của việc các vợ chồng tận hiến hoàn toàn và trung thành, mở đường cho sự sống". (23)

18. Những kẻ dấn thân trong ngành chính trị phải ý thức tính cách nghiêm trọng của vấn đề này. Bên phương Tây, sinh hoạt chính trị bây giờ thường có xu hướng yểm trợ những phương diện thực dụng nói chung, và cái gọi là "chính sách cân đối" (policy of balances) trong mọi vấn đề cụ thể, mà không chịu bàn cãi về những nguyên lý có thể phương hại những thoả hiệp khó khăn và tạm bợ giữa các phe nhóm, liên minh và đồng minh. Nhưng những cân đối này không thể đặt nền tảng trên các nguyên tắc rõ rệt, trên sự trung thành với những giá trị thiết yếu và trên sự sáng sủa của các nguyên lý cơ bản hay sao ? "Nếu không có chân lý quyết định để hướng dẫn và điều khiển sinh hoạt chính trị, bấy giờ những quan điểm và những xác tín có thể dễ dàng bị thao túng vì những lý do quyền lực. Như lịch sử minh chứng, một chế độ dân chủ vô giá trị dễ dàng chuyển sang chế độ độc tài trắng trợn hay trá hình cách mỏng manh" (24) Nhiệm vụ lập pháp đáp ứng với trách nhiệm chính trị; theo nghĩa này, các nhà chính trị phải cảnh giác (không những trong mức độ các nguyên lý mà còn trong mức độ các áp dụng) để tránh việc làm đổ vỡ, kéo theo nhiều hậu quả bây giờ và mai sau, sự liên hệ giữa luật luân lý và dân sự, và sự bênh vực giá trị có tính giáo dục và văn hoá của hệ thống pháp lý. (25) Phương thế hiệu nghiệm nhất để canh giữ quyền lợi chung, không hệ tại những nhân nhượng mị dân trước các nhóm áp lực khuyến khích những phối hợp thực tại, nhưng đúng hơn hệ tại sự cổ võ cương quyết và có hệ thống, những chính sách gia đình hữu cơ, coi gia đình dựa trên hôn nhân như là trung tâm và động lực của chính sách xã hội, và bao trùm lãnh vực rộng rãi của các quyền lợi gia đình. (26) Toà Thánh đã tập trung chú ý đến phương diện này trong bản Hiến Chương các Quyền Lợi Gia Ðình. (27) đi xa hơn quan niệm hạnh phúc thuần túy của Nhà Nước.

Những nền tảng nhân loại học trong sự khác biệt giữa hôn nhân và các phối hợp "thực tại"

19. Hôn nhân đặt căn cứ trên những nền tảng nhân loại học rất được xác định, những nền tảng này phân biệt gia đình khỏi những thứ kết hợp khác và - vượt xa địa hạt hành động cụ thể và cái gì là "thật" - bén rễ nó trong chính bản tính con người của người đàn bà hay người đàn ông.

Những gia đình này bao gồm: sự bình đẳng giữa những người nam và những người nữ, bởi vì cả hai là những nhân vị như nhau (28) (mặc dù bằng những cách khác biệt); đặc tính bổ sung các phái tính (29) từ đó phát sinh khuynh hướng tự nhiên của họ tới việc sinh con cái; khả năng yêu nhau chính vì họ khác phái và bổ sung cho nhau đến nỗi "tình yêu này được diễn tả và hoàn bị duy nhất qua những tác động xứng với hôn nhân"; (30) khả năng - của tự do - thiết lập một quan hệ bền vững và dứt khoát, nghĩa là một quan hệ ràng buộc theo công lý; (31) và, sau cùng, chiều kích xã hội của hoàn cảnh vợ chồng và gia đình, hoàn cảnh đó tạo thành bối cảnh đầu tiên của sự giáo dục và sự cởi mở đối với xã hội nhờ những quan hệ gia đình (góp phần hình thành căn tính của nhân vị). (32)

20. Nếu chấp nhận sự có thể của một tình yêu đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, thì hiển nhiên tình yêu này (tự nó) hướng về sự thân tình, một sự độc chiếm nào đó, sự sinh con cái và một dự án sống chung. Khi điều này là điều được ước muốn và trong một cách mà người kia được trao cho khả năng được phép làm điều đó, lúc đó sự hiến mình thật sự và sự chấp nhận giữa người nam và người nữ đi tới chỗ tạo thành một sự hiệp thông vợ chồng. "Amor conjugalis - tình yêu vợ chồng - do đó, không chỉ là hay đầu tiên là một cảm giác, nhưng chủ yếu là một sự cam kết với người khác, một sự cam kết thực hiện qua chính hành động của ý muốn. Chính sự cam kết này cho tình yêu -amor- cái phẩm chất vợ chồng - conjugalis. Một khi một sự cam kết đã thực hiện và được ưng thuận chấp nhận, tình yêu làm nên vợ chồng và không bao giờ mất đặc tính này" (33) Ðiều đó, trong truyền thống lịch sử Kitô giáo phương Tây, được gọi là hôn nhân.

21. Do đó hôn nhân là một dự án bền vững, cùng chung, phát sinh từ sự tự hiến tự do và trọn vẹn của của tình yêu vợ chồng sinh hiệu quả như là một cái gì nợ theo phép công bằng. Từ khi một cơ chế xã hội sáng tạo được thành lập (và sinh ra nguồn gốc xã hội), chiều kích công bình gắn liền bởi liên hệ vợ chồng. Họ tự do cử hành hôn nhân, sau khi đã chọn lựa nhau cách tự do bình đẳng, nhưng vừa khi họ hình thành động tác này, họ thiết lập một trạng thái cá thể nơi đó tình yêu trở thành một món nợ, kéo theo những hiệu quả mang tính pháp lý" (34) Những cách sống tình dục khác có thể có - có khi nghịch những khuynh hướng tự nhiên, những hình thức khác sống chung, những quan hệ tình bạn - dựa hay không trên sự khác biệt phái tính, và có những cách khác sinh con vào trong thế giới. Nhưng điều riêng biệt cho gia đình thiết lập trên hôn nhân là nó là cơ chế độc nhất sát nhập và phối hợp tất cả những yếu tố nói trên cùng một lúc và trong một phương cách độc đáo.
22. Do đó, xem ra cần nhấn mạnh tính nghiêm trọng và đặc điểm không thể thay thế của một số nguyên lý nhân loại học liên can tới tương quan người nam - người nữ, những nguyên lý làm nền tảng cho sự sống chung con người, và còn hơn nữa để bảo vệ phẩm giá mọi người. Hạt nhân trung tâm và yếu tố thiết yếu của những nguyên lý này là tình yêu vợ chồng giữa hai người đồng phẩm giá như nhau nhưng khác biệt và bổ sung trong phái tính của họ. Chính bản chất của hôn nhân, như là một thực tại tự nhiên và nhân bản, bị đem ra đánh cuộc, và chính lợi ích của cả xã hội cũng đem ra bàn luận. "Như mọi người đều biết, không những các đặc tính và mục đích của hôn nhân bị đặt thành vấn đề ngày nay, nhưng cũng chính giá trị và sự hữu dụng của cơ chế nữa. Ðang khi tránh những tổng quát hoá không cần, chúng ta không thể không biết, trong phương diện này, hiện tượng càng ngày gia tăng các phối hợp thuần sự kiện (x. Familiaris consortio, n. 81), và những chiến dịch không khoan nhượng về tư tưởng đại chúng để dành cho được giá trị hôn nhân dầu cho những phối hợp giữa những người cùng phái. " (35)

Ðây là một nguyên lý căn bản: để thành tình yêu vợ chồng thật sự và tự do, tình yêu phải biến thành một tình yêu phải trả theo phép công bằng qua động tác tự do của sự ưng thuận vợ chồng. Ðức Thánh Cha kết thúc thế này: "Trong ánh sáng của những nguyên lý này, chúng ta có thể nhận diện và hiểu sự khác biệt thiết yếu giữa một sự phối hợp thuần thực tại - cho dầu nó rêu rao là có cơ sở trên tình yêu - và hôn nhân, trong đó tình yêu được diễn tả qua một sự cam kết không những có tính luân lý mà còn có tính pháp lý cách chính xác. Sự ràng buộc chấp nhận với nhau, tới lượt nó, có một hiệu quả mạnh trên tình yêu từ đó nó được phát sinh, nuôi dưỡng tính bền vững của nó có lợi cho các đương sự, cho con cái và cho chính xã hội nữa". (36)

Trên thực tế, hôn nhân, nền tảng gia đình, không phải là một "cách sống phái tính như là một đôi". nếu chỉ có bấy nhiêu thôi, nó chỉ là một của những cách. (37) thế có thể. Nó cũng không đơn giản là sự biểu lộ của một tình yêu tình cảm giữa hai người: đặc tính này thường thấy trong bất cứ tình bạn yêu đương nào. Hôn nhân còn hơn thế nữa: nó là một sự phối hợp giữa một người nam và một người nữ, chính xác như vậy, và trong sự toàn vẹn của bản chất nam nữ của họ. Sự phối hợp này chỉ có thể được thiết lập qua một động tác ý muốn tự do của các hội viên, nhưng nội dung riêng của nó được quyết định do cấu trúc của hữu thể nhân bản, người nữ và người nam: sự hiến thân cho nhau và sự truyền sự sống. Sự hiến thân như vậy, trong toàn chiều kích bổ sung của một người nữ và một người nam, cùng với sự muốn mình thuộc về kẻ khác theo phép công bằng, (sự hiến thân như vậy) được gọi là quan hệ vợ chồng, và những hội viên trong cách đó trở thành vợ chồng: "Sự hiệp thông vợ chồng như vậy xuyên rễ của nó trong một sự bổ sung tự nhiên hiện hữu giữa người nam và người nữ, và được nuôi nấng qua sự muốn cá thể của vợ chồng chia sẻ dự án sống toàn bộ của họ, điều họ có và điều họ là: do đó sự hiệp thông như thế là hoa quả và là dấu chỉ một nhu cầu nhân bản sâu xa". (38)

Ðưa các quan hệ đồng tính luyến ái ngang hàng với hôn nhân càng trầm trọng hơn nữa.

23. Chân lý về tình yêu vợ chồng cũng có thể cho hiểu những hậu quả xã hội nghiêm trọng do sự cơ chế hoá những quan hệ đồng tính luyến ái: "Chúng ta có thể thấy không thích hợp sự đòi hỏi cung cấp tình trạng 'vợ chồng' theo pháp lý cho những phối hợp giữa những người cùng phái. Ðiều đó bị đối kháng, trước hết, bởi sự không thể khách quan làm cho sự chung sống sinh hoa trái qua sự lưu truyền sự sống theo như chương trình Chúa ghi trong chính cấu trúc của hữu thể nhân bản. Một ngăn trở khác là sự thiếu vắng những điều kiện cho sự bổ sung liên vị này giữa giống đực và giống cái mà Ðấng Tạo Hoá đã muốn có ở cả hai bình diện sinh lý và tâm lý cách cao vượt." (39) Hôn nhân không thể rút gọn về một hoàn cảnh giống như hoàn cảnh của tương quan đồng tính luyến ái: điều này trái nghịch với kinh nghiệm. (40) Trong trường hợp những tương quan đồng tính luyến ái, phải được coi như là những phối hợp thực tại, những hậu quả luân lý và pháp lý đảm nhiệm sự thích hợp riêng. (41). "Sau cùng, 'những phối hợp thực tại' giữa những người đồng tính luyến ái là một sự bóp méo đáng thương của điều phải là một sự hiệp thông tình yêu và sự sống giữa một người nam và một người nữ trong một sự hiến thân cho nhau đưa tới sự sống". (42) Dầu sao, sự tự hào biến những phối hợp này thành tương đương với "hôn nhân pháp lý", như những sáng kiến mới đây cố gắng làm, thì càng nghiêm trọng hơn. (43) Hơn nữa, những cố gắng hợp pháp hoá sự nhận trẻ làm con nuôi bởi những đôi đồng tính luyến ái, thêm một yếu tố hiểm nguy lớn vào tất cả những hiểm nguy trước đó. (44) Sự ràng buộc giữa hai người nam hay giữa hai người nữ không thể tạo thành một gia đình thật sự và sự phối hợp này càng ít có quyền nuôi con mà không có một gia đình. (45) Nhắc tới tính siêu việt xã hội của chân lý về tình yêu vợ chồng, và do đó sự sai lầm to lớn khi nhìn nhận hay có khi biến những tương quan đồng tính luyến ái tương đương với hôn nhân, là không có ý kỳ thị những người đó cách nào hết. Chính công ích thuộc xã hội đòi hỏi luật pháp phải nhìn nhận, quí mến và bênh vực phối hợp vợ chồng như là nền tảng của gia đình có thể bị thiệt hại trong cách thức này. (46)
 

IV. CÔNG LÝ VÀ GIA ÐÌNH NHƯ LÀ MỘT THIỆN ÍCH XÃ HỘI

Gia đình, một lợi ích xã hội phải được bảo vệ theo công lý

24. Hôn nhân và gia đình là một lợi ích xã hội loại nhất đẳng: "Gia đình luôn luôn diễn tả một chiều kích mới của lợi ích cho nhân loại, và như vậy nó tạo thành một trách nhiệm mới. Chúng ta đang nói tới trách nhiệm đối với lợi ích chung đặc biệt này, bao gồm lợi ích của cá nhân, của mỗi thành phần cộng đồng gia đình. Chắc đó là một lợi ích 'khó khăn' ('bonum arduum'), nhưng cũng là một lợi ích hấp dẫn". (47) Ðiều chắc chắn là không phải tất cả vợ chồng cũng không phải tất cả gia đình thật sự triển khai tất cả lợi ích có thể thuộc cá nhân và xã hội. (48) Như một hậu quả, xã hội phải làm phần của mình bằng cách tạo ra những phương tiện có thể sử dụng được, những phương tiện sẽ dễ dàng hoá sự phát triển những giá trị của nó: "Phải làm tất cả những cố gắng để gia đình được thừa nhận như là căn bản, nói được là xã hội 'vương quyền' ! Tính 'vương quyền' của gia đình là thiết yếu cho lợi ích xã hội". (49)

Những giá trị xã hội khách quan phải được nuôi dưỡng

25. Theo nghĩa này, hôn nhân và gia đình tạo nên một thiện ích cho xã hội, bởi vì bênh vực một lợi ích quí báu cho chính vợ chồng, vì "gia đình, một xã hội tự nhiên, hiện hữu trước Quốc gia và bất cứ cộng đồng nào khác, và chiếm hữu những quyền lợi cố hữu không thể nhân nhượng". (50) Một đàng, chiều kích xã hội của những con người đã kết ước hôn nhân, yêu cầu một nguyên lý của an ninh pháp lý. Bởi vì trở nên một người vợ hay một người chồng là thuộc lãnh vực hiện hữu - chớ không phải là lãnh vực của hành động, giá trị của dấu chỉ mới về căn tính cá nhân có quyền được thừa nhận công khai, một sự thừa nhận phải được xã hội tiến hành, vì lợi ích nó tạo nên đáng được. Hiển nhiên trật tự đúng của xã hội được giúp hiện thực khi hôn nhân và gia đình được hình thành như chúng thật sự là: một thực tại bền vững. (52) Hơn nữa, sự tận hiến trọn vẹn như một người nam và một người nữ trong thiên chức làm cha và làm mẹ tương lai, dĩ nhiên với sự phối hợp - điều này cũng có tính độc chiếm và bền vững- giữa cha mẹ và con cái, (sự tận hiến đó) diễn tả sự tín cẩn vô điều kiện, sự tín cẩn được tỏ bày trong sức mạnh và vẻ phong phú đối với mọi người. (53)

26. Một mặt, phẩm giá của con người đòi con người phải có nguồn gốc từ cha mẹ kết hợp trong hôn nhân, từ sự phối hợp cần thiết thân tình, trọn vẹn, lẫn nhau và bền vững, sự phối hợp phát xuất từ sự hiện hữu vợ chồng. Ðó mới là một lợi ích cho con cái. Ðó là nguồn gốc duy nhất bảo tồn đầy đủ nguyên lý của căn tính con cái, không những từ quan điểm di truyền hay sinh lý, mà cũng từ viễn ảnh có tính tiểu sử và lịch sử. (54) Mặt khác, chính hôn nhân cấu tạo bối cảnh nhân bản nhất và có nhân tính để đón chờ con cái, bối cảnh cung cấp cách sẵn sàng nhất sự an toàn cảm động và bảo đảm sự hợp nhất lớn hơn và sự liên tục trong quá trình hội nhập xã hội và giáo dục. "Sự hợp nhất giữa một bà mẹ và một đứa con thụ thai và nhiệm vụ không thể thay thế của người cha, đòi hỏi đứùa con phải được đón nhận vào trong một gia đình bảo đảm cho nó nếu có thể, sự hiện diện của cả cha mẹ. Sự đóng góp đặc biệt của cha mẹ đối với gia đình, và qua gia đình, đối với xã hội, đáng được quan tâm nhiều" (55) Hơn nữa, sự nối tiếp tiếp tục giữa tình vợ chồng, thiên chức mẹ/cha, và mối quan hệ họ hàng (phận làm con, tình anh em, v.v…) tránh được nhiều vấn đề trầm trọng cho xã hội, những vấn đề xảy ra chính lúc giây chuyền các yếu tố khác biệt bị bứt gãy đến nỗi mỗi một yếu tố hành động độc lập sánh với các yếu tố khác. (56)

27. Ðối với các thành phần khác của gia đình, sự phối hợp hôn nhân, như là một thực tại xã hội, cũng là một thiện ích. Thực vậy, trong gia đình phát triển từ sự ràng buộc hôn nhân, không những các thế hệ mới được đón tiếp và dạy dỗ hợp tác trong những gì xứng hợp với họ, nhưng những thế hệ trước (ông bà) có dịp thuận lợi để vào sự phong phú chung: đóng góp những kinh nghiệm riêng của mình, cảm thấy có giá trị một lần nữa trong việc phục vụ của mình, củng cố phẩm giá đầy đủ của họ như những nhân vị được quí trọng và được yêu vì chính mình họ và được chấp nhận trong một sự đối thoại liên thế hệ thường mang hoa quả. Thật vậy, "gia đình là nơi mà các thế hệ khác biệt đến với nhau và người này giúp người kia lớn lên trong sự khôn ngoan nhân bản và điều hoà những quyền lợi cá nhân với những đòi hỏi khác của đời sống xã hội". (57) Ðồng thời, những người lớn tuổi có thể nhìn xem tương lai với lòng tin tưởng và biết chắc mình được đùm bọc và được chăm sóc bởi những kẻ mà mình đã chăm sóc từ nhiều năm trước. Hơn nữa, được biết khi gia đình thực sự sống như vậy, thì phẩm chất của sự chú tâm tới người già không thể thay thế được - ít nhất đối với một số khía cạnh - bởi sự quan tâm do các cơ chế bên ngoài cung cấp, cho dầu những cơ chế đó làm việc với lương tâm và với những phương tiện kỹ thuật cao. (58)

28. Những lợi ích khác cho toàn thể xã hội, phát sinh từ sự hiệp thông vợ chồng, như là bản chất và nguồn gốc gia đình, có thể được xem trọng, như : nguyên lý của việc làm công dân; nguyên lý của đặc điểm đơn nhất thuộc tình bà con - điều tạo nên nguồn gốc những liên hệ trong xã hội cũng như sự bền bỉ của chúng; nguyên lý của sự truyền sang những lợi ích và giá trị văn hoá; nguyên lý của sự bổ sung, vì sự biến mất gia đình bắt buộc Nhà Nước phải thay thế gia đình trong những nhiệm vụ tự bản tính thuộc về gia đình; nguyên lý của kinh tế cũng vậy trong những vấn đề pháp lý, bởi vì gia đình tan rã, Nhà Nước phải tăng thêm những can thiệp của mình để trực tiếp giải quyết những vấn đề phải để và được giải quyết trong lãnh vực tư, với những hiệu quả gây đau buồn to lớn v&a

This article was published on Monday 14 December, 2009.

Back to main topic: HỌC HỎI
ĐỔ VỞ TRONG GIA Đ̀NH
KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI SỐNG GIA Đ̀NH
ĐỨC TIN VÀ SỰ CHUNG THỦY
HIỆP NHẤT TÔN GIÁO NƠI GIA Đ̀NH
HIỆP NHẤT TRONG LƯ TƯỞNG
VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH TRONG HÔN NHÂN
GIÁO DỤC CON CÁI
VAI TR̉ NGƯỜI CHỒNG TRONG GIA Đ̀NH
VAI TR̉ NGƯỜI VỢ TRONG GIA Đ̀NH
MỘT TƯ TƯỞNG B̀NH DÂN VỊÊT NAM VN
CHỮ T̀NH VÀ CHỮ YÊU
GIA Đ̀NH VỊÊT NAM QUA BỮA ĂN
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.4
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.3
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P. 1
MỤC ĐÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN
TU ĐỨC TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA Đ̀NH
SỐNG ĐẠO TRONG GIA Đ̀NH
MƯỜI ĐIỀU BẢO VỆ HẠNH PHÚC GI
NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ TAN VỠ TRONG GIA
HÔN NHÂN TRONG Ư CHÚA
LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG B̀NH THƯỜN
T̉A ÁN HÔN PHỐI
NHỮNG NGĂN TRỞ KHIẾN MỘT HÔN PHN
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
ĐẶC ÂN THÁNH PHAOLÔ

Current Reviews: 0
Write Review
Tell a friend
Tell a friend about this article:  

 
 

Articles
New Articles
All Articles
All Topics
 ABOUT FR. LINH
 ENGLISH -> (266)
 ESPAÑOL -> (274)
 TIẾNG VIỆT -> (540)
 H.Y. NG. VĂN THUẬN
 Đ.C. NG. VĂN NHO
Articles RSS Feed

Quick Find