Top » TIẾNG VIỆT » HỌC HỎI » NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.4
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.4

NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - PHẦN 4

Ðức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách

 

Những phương tiện truyền thông

46. Trong thời đại chúng ta, khủng hoảng về những giá trị gia đình và quan niệm gia đình trong các hệ thống Quốc gia và trong những phương tiện truyền thông văn hoá - báo chí, truyền hình, internet, phim ảnh, v.v... - đòi hỏi một cố gắng riêng biệt làm cho những giá trị gia đình hiện diện trong các phương tiện truyền thông. Hãy xem, ví dụ, ảnh hưởng lớn của những phương tiện này trong việc đánh mất cảm giác xã hội đối với những hoàn cảnh như ngoại tình, ly dị và thậm chí những phối hợp thực tại, cũng như sự làm méo mó độc hại trong nhiều trường hợp của các "giá trị" (hay đúng hơn những "phi giá trị") mà các phương tiện truyền thông đôi khi trình bày như là những sự có thể bình thường trong đời sống. Hơn nữa, phải ghi nhớ rằng trong một số dịp, và mặc dầu có một sự đóng góp đáng khen của những Kitô hữu dấn thân hợp tác trong các phương tiện truyền thông, một số chương trình và một loạt truyền hình góp phần vào việc thông tin sai lầm và làm tăng gia sự dốt nát tôn giáo hơn là đào tạo tôn giáo. Cho dầu những nhân tố này không nằm trong những yếu tố cơ bản hình thành nột nền văn hoá, ảnh hưởng của chúng không không đáng kể giữa những nhân tố xã hội học nên ghi nhớ trong việc chăm sóc mục vụ được cảm hứng do những tiêu chuẩn thực tế. 

 

Dấn thân xã hội

47. Ðối với nhiều người thời đại chúng ta mà tính chủ quan đã bị "phá huỷ" theo ý thức hệ, nói được như vậy, hôn nhân xem ra như ít hay nhiều không tưởng. Ðối với những người này, thực tại hôn nhân không có nghĩa gì. Bằng cách nào sự chăm lo mục vụ của Giáo Hội có thể là nột biến cố cứu rỗi cho họ ? Theo nghĩa này, sự dấn thân chính trị và luật pháp của các người Công giáo có trách nhiệm trong lãnh vực này, là quyết định. Luật pháp cấu tạo trong phạm vi rộng "đặc tính" của một dân tộc. Về điểm này, xem ra điều rất hữu ích là mở chiến dịch kêu gọi chiến thắng cơn cám dỗ đứng trung lập trong lãnh vực chính trị - luật pháp, và nhấn mạnh nhu cầu đưa ra bằng chứng công khai cho phẩm giá con người. Như chúng ta đã nói trên, biến những phối hợp thực tại tương đương với gia đình bao hàm một sự biến đổi trong hệ thống đối với công ích xã hội, và đây là một tai hại cho cơ chế gia đình xây dựng trên hôn nhân. Do đó, nó là một sự dữ đối với những cá thể, gia đình và xã hội. Cái gì là "có thể về mặt chính trị" và sự biến đổi của nó theo thời gian, không thể bị tách rời khỏi những nguyên lý tối hậu của chân lý về con người, những nguyên lý chân lý đó phải linh ứng các thái độ, những sáng kiến cá nhân và chương trình mai sau. (100) Ðiều cũng xem ra hữu ích là phê bình "giáo điều" của mối quan hệ không thể tách rời giữa nền dân chủ và chủ nghĩa tương đối đạo đức làm nền tảng cho nhiều cố gắng luật pháp biến các phối hợp thực tại thành tương đương với gia đình.

48. Vấn đề những sự phối hợp thực tại cấu tạo một thánh đố thật sự cho người Kitô hữu, trong khả năng của họ minh chứng phương diện hữu lý của đức tin, tính hữu lý sâu sắc của Tin Mừng về hôn nhân và gia đình. Một việc loan báo Tin Mừng mà không có thách đố về tính hữu lý này (theo nghĩa của một sự phù hợp mật thiết giữa sự ước muốn tự nhiên của con người và Tin Mừng được Giáo Hội loan báo) sẽ ra vô hiệu nghiệm. Vì lẽ đó, ngày nay hơn trong thời kỳ nào khác, cần dùng những lời nói có thể tin được để làm cho người ta biết tính đáng tin cậy nội tại của sự thật về con người làm nền tảng cho cơ chế tình yêu hôn nhân. Khác với những gì xảy ra trong các bí tích khác, hôn nhân cũng thuộc về nhiệm cục sáng tạo và được ghi vào trong những động lực tự nhiên loài người. Thứ đến, cũng cần một sự suy nghĩ mới về những nền tảng cơ bản, những nguyên lý thiết yếu linh ứng những sinh hoạt giáo dục trong những môi trường và cơ chế khác nhau. Cái gì là triết lý ngày nay của nhũng cơ chế giáo dục trong Giáo Hội, và cái gì là phương thức trong đó những nguyên lý nàyđưa tới một nền giáo dục xứng hợp đối với hôn nhân và gia đình, như là những cấu trúc hạt nhân vừa cơ bản vừa cần thiết cho chính xã hội ?
Sự chăm sóc và sự gần gũi mục vụ

49. Sự hiểu rõ những vấn đề hiện sinh và những lựa chọn của những ke ûsống trong những phối hợp thực tại, là việc chính đáng và, trong vài trường hợp, là một bổn phận. Một số những hoàn cảnh này còn khơi lòng thương xót thật sự và xứng hợp. Sự tôn trọng phẩm giá con người không phải là đối tượng để bàn cãi. Nhưng, sự hiểu biết những hoàn cảnh và sự tôn trọng con người không đồng nghĩa với sự biện hộ. Ngược lại, trong những hoàn cảnh này, đây là một vấn đề phải nhấn mạnh rằng chân lý là một thiện ích thiết yếu cho con người và là một nguyên tố của sự tự do chính thống, và sự khẳng định về sự thật thì không sinh ra sự xúc phạm nào hết, bởi vì "không bỏ qua một cái gì thuộc giáo lý cứu rỗi của Ðức Kitô, là một sự tỏ bày nổi bật đức ái đối với các linh hồn". (101) Ðàng khác, "điều này phải luôn luôn được kết nối với sự khoan dung và bác ái. Về sự kiện này, chính Chúa trong những lúc trò chuyện và đối xử với người ta, đã để lại một tấm gương" (102) Do đó, các Kitô hữu phải tìm hiểu những lý do cá tánh, xã hội, văn hoá và ý thức hệ đối với sự phổ biến các phối hợp thực tại. Phải nhớ rằng việc chăm sóc mục vụ sáng trí và tế nhị có thể, trong một số dịp, chiếu cố sự lấy lại "tính cơ chế" cho một số phối hợp thực tại này. Những người đang ở trong những hoàn cảnh này, phải được ghi nhớ một cách tỉ mỉ và khôn ngoan trong việc chăm sóc mục vụ bình thường của cộng đồng giáo hội. Việc chăm sóc này bao hàm sự gần gũi, sự chú ý tới những vấn đề và những khó khăn liên hệ, sự đối thoại kiên nhẫn, sự giúp đỡ cụ thể, cách riêng đốivới trẻ con. Sự phòng ngừa, cũng trong phương diện chăm sóc mục vụ này, là một quan tâm ưu tiên.

PHẦN KẾT

50. Trên các thời đại, sự khôn ngoan của dân chúng, mặc dầu có hạn, đã thật sự có khả năng công nhận bản chất và sứ vụ cơ bản không thể thay thể của gia đình xây dựng trên hôn nhân. Gia đình là một thiện ích khẩn cấp và cần thiết cho toàn thể xã hội, và nó có quyền thật sự và xứng hợp theo lẽ công bằng được công nhận, bảo vệ và khuyến khích bởi toàn thể xã hội. Chính toàn thể xã hội này bị thiệt hại khi thiện ích quí báu và cần thiết này của nhân loại bị tổn thương bất cứ cách nào. Trước hiện tượng xã hội những phối hợp thực tại, và trước sự đình hoãn tình yêu vợ chồng do tình trạng này gây nên, chính xã hội không thể đứng trung lập. Chỉ sự xoá bỏ vấn đề qua sự giải quyết giả dối là ban cho chúng sự công nhận và đặt chúng trong bình diện công khai giống như, hay có khi bằng, các gia đình xây dựng trên hôn nhân, là một sự so sánh tai hại cho hôn nhân (điều làm thiệt hại cơ chế tự nhiên này, một cơ chế rất cần ngày nay, hơn là cung cấp những chính sách gia đình thật sự). Hơn nữa, điều này bao hàm một sự thiếu trầm trọng trong sự nhìn nhận chân lý có tính nhân loại học về tình yêu nhân bản giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và về những phương diện bất khả phân ly của sự hợp nhất vững chắc và của sự mở ra cho sự sống. Sự thiếu nhìn nhận này còn trầm trọng hơn khi không nhận biết sự khác biệt rất sâu sắc và thiết yếu giữa tình yêu vợ chồng, là điều xuất phát từ cơ chế hôn nhân, và những quan hệ đồng tính luyến ái. "Sự lãnh đạm" của những chính quyền công cộng đối với phương diện này, giống hệt loại kỳ thị đối với sự sống hay chết của xã hội, một sự lãnh đạm về sự bành trướng hay suy đồi của nó. Nếu những phương thuốc thích hợp không được áp dụng, sự "trung lập" đó có thể đứa tới sự phá đổ cơ cấu xã hội và khoa sư phạm của các thế hệ mai sau.

Sự đánh giá thấp tình yêu vợ chồng và sự rộng mở nội tại của nó đến sự sống, cùng với sự bất ổn của sự sống gia đình theo sau, là một hiện tượng xã hội đòi hỏi sự nhận định sáng suốt về phía tất cả những ai cảm thấy mình phải dấn thân cho thiện ích gia đình, và cách rất đặc biệt về phía các Kitô hữu. Ðiều này có nghĩa trước hết là phải công nhận những duyên cớ thật sự (ý thức hệ hay kinh tế) của hoàn cảnh, và không nhân nhượng những sức ép mị dân của nhóm người vận động ở hành lan Quốc hội không tha thiết gì tới lợi ích chung xã hội. Giáo Hội Công giáo, theo chân Chúa Giêsu Kitô, công nhận trong gia đình và tình yêu vợ chồng một ân ban hiệp thông của Thiên Chúa giàu lòng thương xót đối với nhân loại, một kho tàng quí báu của sự thánh thiện và ân sủng sáng chói giữa thế giới. Do đó, Giáo Hội kêu mời những ai đang chiến đấu vì con người, phải kết hợp những cố gắng của mình trong việc khuyến khích gia đình và nguồn gốc tình yêu sâu sắc của nó, là sự phối hợp vợ chồng.

HẾT

GHI CHÚ:

(1) Second
Vatican Council, constitution Gaidium et Spes, n. 47.
(2) Second
Vatican
council, Constitution Lumen Gentium, n. 11 ; Decree Apostolicam actuaositatem, n. 11.
(3) Catechism of the Catholic Church nn. 2331-2400, 2514-1533; cf. Pontifical Council for the Family, Truth and meaning of Human Sexuality,
8 December 1995
.
(4) John Paul II, Apostolic Exhortation, Familiaris consortio, n. 80.
(5) Sự nhân tính hoá và sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội, trong sự chọn lựa ưu tiên người nghèo, thường thường được hướng dẫn trong các miền này để "hợp thức hoá những phối hợp này qua việc cử hành hôn nhân (hay sự phê chuẩn hay sự chữa lành, tùy theo trường hợp) theo lập trường của Giáo Hội cam kết thánh hoá các gia đình Kitô hữu.
(6) Nhiều lý thuyết giải thích pháp luật ngày nay duy trì nhiều quan niệm khác nhau về đường lối mà xã hội - theo quan điểm của họ - phải thay đổi bằng cách thích nghi với nhiều "giống" khác biệt (ví dụ, suy nghĩ về giáo dục, sức khỏe, v.v...). Có người bênh vực 3 giống, kẻ khác 5, kẻ khác 7, kẻ khác một số khác biệt tùy theo những nghiệm xét khác nhau.
(7) Cả hai thuyết Macxít và thuyết kết cấu (structualism) đã góp phần rộng rãi trong việc củng cố ý thức hệ này về "giống" đã chịu nhiều ảnh hưởng, như "sự cách mạng phái tính", với những định đề như đã được nêu lên do W. Reich (1897-19570 nhằm kêu gọi một "sự giải phóng" khỏi mọi kỷ luật phái tính, hay là như đã được đặt ra do Herbert Marcuse (1898- 1979) và lời mời của ông thử nghiệm mọi thứ hoàn cảnh phái tính (theo nghĩa một thuyết đa dạng phái tính hay xu hướng "tính dục khác giới không phân biệt -nghĩa là xu hướng tính dục tự nhiên - hay đồng tính luyến ái), tách rời khỏi gia đình và mọi mục đích tự nhiên của sự khác biệt giữa các phái tính, cũng như tách rời khỏi mọi ngăn trở phátsnh do trách nhiệm sinh sản. Một thuyết nam nữ bình quyền kia có tính triệt để và quá khích, nêu lên do sự đóng góp của bà Margaret Sanger (1879-1966) và bà Simone de Beauvoir (1908-1986), không thể bị đặt bên lề của quá trình lịch sử này về sự củng cố một ý thức hệ. Như vậy, "quan hệ khác phái" và chế độ một vợ một chồng không còn được xem là gì cả, nhưng chỉ là một trong những trường hợp có thể của sự thực hiện phái tính.
(8) Lập trường này, vô phúc, được đón nhận thuận lợi trong một số thể chế quốc tế quan trọng, sinh thiệt hại cho chính quan niệm về gia đình mà nền tảng là và phải là hôn nhân. Trong những thể chế này, một vài cơ quan của Liên Hiệp Quốc mới đây xem ra nâng đỡ một số những lý thuyết này, như vậy là tránh ý nghĩa đích thực của điều 16 của Bản Tuyên Ngôn Chung Nhân Quyền năm 1948, chỉ rõ gia đình như "một yếu tố tự nhiên và cơ bản của xã hội". Cf. Hội Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia đình, The Family and Human Rights, 1999, n. 16.
(9) Cf. Aristotle, Politica I, 9-10 (Bk 125 a).
(10) Catechism of the Catholic Church, n. 2207.
(11) Cf. John Paul II, Apostolic Exhortation, Familiaris consortio, n. 18.
(12) John Paul II, Allocution during the General audience of I December 1999)
(13) Second Vatican Council, Constitution Gaudium et Spes, n. 47.
(14) "... Ngoài một số trường phái khác nhau về tư tưởng, có một số nhiều kiến thức có thể xem như một loại gia sản thiêng liêng của nhân loại. Ðiều đó y như chúng đạt tới một khoa triết lý mặc nhiên, mà hậu quả của nó là tất cả mọi người cảm thấy mình chiếm hữu những nguyên lý đó, mặc dầu cách chung chung và không suy nghĩ. Chính vì nó được mọi người chia sẻ trong mức độ nào đó, sự hiểu biết này đáng lý phải được sử dụng như một thứ điểm đối chiếu cho các trường phái triết học khác nhau. Một khi lý trí trực giác có hiệu quả và công thức hoá những nguyên lý phổ quát đầu tiên về hữu thể và chính xác rút từ đó mhững kết luận có mạch lạc cả mặt lý lẽ và đạo đức, lúc đó mới được gọi là lý lẽ đúng hay là, như những người xưa gọi, chính thống orth(os) logos recta ratio" John Paul II, Encyclical Fides et ratio, n. 4.
(15) Cf. Second
Vatican
Council, Constitution Dei Verbum, n. 10.
(16) "Việc rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, là đá ngầm làm tan vỡ mối liên kết giữa đức tin và triết học, nhưng cũng là đá ngầm mà cả hai có thể vượt qua để khởi hành trên một đại dương không bờ bến thuộc chân lý. Ở đây chúng ta thấy không những biên giới giữa lý trí và đức tin, nhưng cũng thấy không gian nơi cả hai có thể gặp". John Paul II, Encyclical Fides et ratio, n. 23. "Tin Mừng sự sống không phải dành cho các kẻ tin mà thôi: dành cho mọi người. Vấn đề sự sống và việc bênh vực và khuyến khích nó, không phải là quan tâm của người Kitô hữu mà thôi". John Paul II, Encyclical Evangelium vitae, n. 101.
(17) John Paul II, Allocution to the Forum of Vatholic Associations of
Italy, 27 June 1998
.
(18) Pontifical Council for the Family, Phát Biểu về Quyết Ðịnh của Nghị Viện Âu Châu biến những phối hợp thực tại, kể cả sự phối hợp đồng phái, tương đương với gia đình, 17.03.2000.
(19)
St Augustine
, De libero arbitrio, I, 5, 11.
(20) "Ðời sống xã hội và đồ thiết bị pháp lý của nó đòi hỏi một nền tảng cơ bản của nó. Nếu không có luật nào khác ngoài luật dân sự, bấy giờ chúng ta phải công nhận rằng một vài giá trị, kể những giá trị muốn đạt được người ta đã chiến đấu và chấp nhận những bước gian khổ trong bước tiến chậm chạp tới tự do, (những giá trị đó) có thể bị xoá bỏ bởi một lá phiếu thuộc đa số thôi. Những kẻ phê bình luật luân lý phải nhắm mắt trước sự có thể này, và khi họ đề xướng những luật - đi ngược lại công ích trong những đòi hỏi cơ bản của nó - họ phải suy xét tất cả những hậu quả của việc làm của họ, bởi vì họ có thể xô đẩy xã hội vào trong hướng nguy hiểm". Card. A. Sodano, bài Diễn văn trong kỳ họp lần thứ hai các nhà Chính Trị và Lập Pháp Âu Châu, do Hội Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia đình,
Vatican City
, 22-24 October 1998.
(21) Tại Âu Châu, ví dụ, trong bản Hiến Pháp nước Ðức: "Hôn nhân và gia đình được bảo vệ riêng trong hệ thống Nhà Nước" (Art. 6); Tây Ban Nha: "những chính quyền bảo đảm việc bảo vệ gia đình về mặt xã hội, kinh tế và pháp lý" (Art. 39); Ireland : "Nhà Nước công nhận gia đình như là nhóm xã hội tự nhiên có quyền ưu tiên và căn bản và như là một thể chế luân lý được ban cho các quyền không thể nhân nhượng và vĩnh cửu, những quyền đó có trước và trên tất cả luật thực định (positive law). Vì lẽ đó, Nhà Nước dấn thân bênh vực thể chế và uy quyền của gia đình như là nền tảng cần thiết cho xã hội và như là điều cần thiết cho phúc lợi Quốc gia và nhà nước" (Art. 41); Italy: "Nhà Nước Cộng Hoà công nhận những quyền gia đình như là một xã hội tự nhiên xây dựng trên hôn nhân" (Art. 29); Poland : "Hôn nhân, nghĩa là sự phối hợp một người nam và một người nữ, cũng như gia đình, thiên chức làm cha và làm mẹ, phải gặp dược sự bảo vệ và chăm sóc trong Nước Cộng Hoà Balan" (Art. 18); Portugal: "Gia đình, là yếu tố nền tảng của xã hội, có quyền được sự bảo vệ của xã hội và của Nhà Nước và đạt được tất cả những điều kiện cho phép sự hoàn thành cá nhân của các thành phần của nó" (Art. 67).
Còn trong những Hiến Pháp trên khắp thế giới: Argentina: "... luật pháp sẽ quyết định ... sự bảo vệ toàn vẹn gia đình" (Art. 14); Brazil: "Gia đình, nền tảng xã hội, là đối tượng của sự bênh vực cách riêng bởi Nhà Nước" (Art. 226); Chilê: "Gia đình là hạt nhân cơ bản của xã hội ... Nhà Nước có trách nhiệm ... bảo vệ dân chúng và gia đình ..." (Art, 1); Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa: "Nhà Nước bảo vệ hôn nhân, gia đình, chứùc làm mẹ và các trẻ em " (Art. 49); Columbia: "Nhà Nước thừa nhận, không chút kỳ thị, sự ưu tiên của những quyền bất khả nhượng của con người, và bảo vệ gia đình như là thể chế nền tảng của xã hội" (Art. 5; Nam Hàn: "Hôn nhân và dời sống gia đình được xây dựng trên nền tảng của phẩm giá cá nhân và sự bình đẳng giữa các phái; Nhà Nước sẽ sử dụng tất cả mọi phương tiện có sẳn để đạt mục đích này" (Art. 36); Phi luật Tân: "Nhà Nước công nhận gia đình Filipino như là nền tảng của Quốc gia. Ðể được hoà hợp với sự kiện này, Nhà Nước phải khuyến khích mạnh mẽ tình liên đới, sự thăng tiến linh hoạt của nó và sự phát triển trọn vẹn của nó. Hôn nhân là là một thể chế xã hội không ai được xâm phạm; đó là nền tảng của gia đình và phải được Nhà Nước bảo vệ" (Art. 15);
Mexico: " ... Luật pháp ... sẽ bảo vệ tổ chức và và sự phát triển của gia đình" (Art. 4); Peru: "Cộng đồng và Nhà Nước... cũng bênh vực gia đình và khuyến khích hôn nhân. Cộng Ðồng và Nhà Nước công nhận gia đình và hôn nhân như là những thể chế tự nhiên và cơ bản của xã hội" (Art. 4); Rwanda: "Gia đình, vì là nền tảng tự nhiên của dân Rwanda
, sẽ được Nhà Nước bảo vệ" (Art. 24).
(22) "Tất cả luật pháp do con người lập ra, có lý do là luật pháp ở tại chỗ nó xuấùt phát từ luật thiên nhiên. Nếu đàng khác, sự gì trái ngược với luật thiên nhiên, lúc đó nó không phải là luật pháp nhưng là sự ung thúi của lề luật". St Thomas Aquinas, Summa Theologica, I-II, q. 95, a. 2.
(23) John Paul II, Diễn văn tại cuộc Họp các nhà Chính Trị và Lập Pháp Âu Châu, do Hội Dồng Giáo hoàng đặc trách Gia đình tổ chức,
Vatican City, 23 October 1998
.
(24) John Paul II, Encyclicaal Centesimus annus, n. 46.
(25) " Với tư cách những nhà chính trị và lập pháp trung thành với bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân quyền, chúng tôi cam kết khuyến khích và bênh vực những quyền của gia đình xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Ðiều này phải được thực hiện trên mọi cấp bậc: địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế. Chỉ bằng cách đó chúng ta mới có thể là những đầy tớ thật sự của công ích, trên cả hai phương diện quốc gia và quốc tế". Những lời tóm kết của kỳ Họp thứ hai của các nhà Chính Trị và những nhà Lập Pháp Âu Châu, do Hội Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia đình tổ chức,
Vatican City
, 22-24 October 1998.
(26) "Gia đình là hạt nhân trung tâm của xã hội dân sự. Chắc nó có một vai trò kinh tế quan trọng, không thể bỏ qua, bởi vì nó cấu tạo nên một tư bản nhân loại lớn nhất, nhưng sứ vụ nó bao hàm nhiều trách vụ khác. Trên hết, nó là một cộng đồng sự sống tự nhiên, một cộng đồng được xây dựng trên hôn nhân, và vì lẽ đó nó có tính liên kết vượt xa tính liên kết của bất cứ cộng đồng xã hội nào khác". Tuyên ngôn cuối của cuộc họp thứ ba các nhà Chính Trị va Lập Pháp Mỹ Châu,
Buenos Aires
, 3-5 August 1999.
(27) Cf. Charter of the Rights of the Family, Preamble.
(28) Cf. John Paul II, Letter to Families Gratissimam sane, n. 6.
(29) Cf. Catechism of the Catholic Church, n. 2333; John Paul II, Letter to families Gratissimam sane, n. 8
(30) Second Vatican Council, Constitution Gaudium et Spes, n. 49.
(31) Cf. Catechism of the Catholic Church, n. 2332; John Paul II, Diễn văn tại toà Toà Thượng Thẩm Roma,
21 January 1999
.
(32) Cf, John Paul II, Letter to Families Gratissimam sane, nn 7-8.
(33) John Paul II, Diễn văn tại Toà Thượng Thẩm Roma,
21 January 1999
.
(34) Ibid.
(35) Ibid.
(36) Ibid.
(37) "Hôn nhân kiến tạo khung sườn pháp lý nuôi dưỡng tính vững bền của gia đình. Nó thực hiện sự đổi mới các thế hệ, Nó không phải là một khế ước đơn giản hay là một việc riêng tư, nhưng đúng hơn nó tạo thành một trong những cấu trúc cơ bản của xã hội mà nó nối kết với nhau". Phát biểu của Hội đồng Thường trực của Hội Ðồng Giám Mục Pháp, đối với dự luật "Civil Pact of Solidarity",
17 September 1998
.
(38) John Paul II, Apostoli Exhortation Familiaris consortio, n. 19.
(39) John paul II, Diễn văn tại Toà Thượng Thẩm Roma,
2 January 1999
.
(40) Không có sự tương đương nào giữa quan hệ của hai người cùng phái, và quan hệ hình thành bởi một người nam và một người nữ. Chỉ quan hệ sau có thể được diễn tả như là một đôi, bởi vì nó bao hàm sự khác biệt phái tính, chiều kích hôn nhân, khả năng làm cha làm me. Hiển nhiên sự đồng tính luyến ái không thể diễn đạt toàn bộ có tính biểu trưng này". Phát biểu của Hội Ðồng Thường trực của Hội Ðồng Giám Mục Pháp, đối với dự luật "Civil Pact of Solidarity",
17 September 1998
.
(41) Ðối với sự rối loạn luân lý nặng nề, nội tại, nghịch với luật thiên nhiên, của những hành vi đồng tính luyến ái, xem Catechism of the Catholic Church, nn. 2357-2359; Bộ Giáo lý Ðức tin, Chỉ thị Persona humana,
29 December 1975; Hội Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia Ðình, Truth and Meaning of Human Sexuality, 8 december 1995
, n. 104.
(42) John Paul II, Diễn văn trước những người tham dự kỳ Ðại Hội thứ 14 của Hội Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia Ðình, 4 June 1999; cf, John Paul II, Angelus, 19 June 1994.
(43) Cf. Hội Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia Ðình, Phát biểu về quyết định của Thượng Viện Âu Châu biến những kết hợp thực tại, gồm phối hợp đồng phái, ngang hàng với gia đình, 17 March 2000.
(44) "Không thể không nhận điều này là, như một số những người cổ động nó hiểu, khoản luật này tạo ra một bước đầu tới, ví dụ, việc nuôi con nuôi do những người sống trong quan hệ đồng tính luyến ái. Chúng tôi sợ cho tương lai như chúng tôi than khóc những gì đã xảy ra". Phát biểu của vị Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Pháp sau khi công bố "Civil Pact of Solidarity",
13 October 1999
.
(45) John Paul II, Angelus,
20 February 1994
.
(46) Cf. Ghi chú của Uỷ Ban Thường Trực Hội Ðồng Giám Mục Tây Ban Nha (14 June 1994) nhân dịp có Nghị Quyết của Thượng Viện Âu Châu ngày 8.02.1994 về những quyền bình đẳng của những người đồng tính luyến ái nam-nữ.
(47) John Paul II, Thơ gởi các gia đình Gratissimam sane, n. 11.
(48) Ibid., n. 14
(49) Ibid., n. 17.
(50) Bản hiến chương về các quyền gia đình, Preamble, D.
(51) Cf. ibid., Preamble passim and Art. 6.
(52) Cf. ibid. Preamble B and
I.

(53) ibid. Preamble C and G.
(54) Cf. John Paul II, Thơ gởi các gia đình Gratissimam sane, nn 9-11.
(55) John Paul II, Allocution,
26 December 1999
.
(56) Cf. John Paul II, Apostolic Exhortation, Familiaris consortio, n. 21 và Thơ gởi các Ggia đình Gratissimam sane, nn. 13-15.
(57) Hiến Chương các Quyền Gia Ðình, Preamble, F; Cf. John Paul II, Apostolic Exhortation Familiaris consortio, n. 21.
(58) Cf. Fohn Paul II, Encyclical Evangelium vitae, nn. 91, 94.
(59) Hiến Chương các Quyền Gia Ðình, Preamble E.
(60) John Paul II, Encyclical Evangelium vitae, n. 92.
(61) Hiến Chương các Quyền Gia Ðình, Preamble, H-I.
(62) Cf. John Paul II, Apostolic Exhortation Familiaris consortio, nn. 23-24.
(63) Cf. ibid. n. 25
(64) Cf. ibid., nn. 28-35; Hiến Chương các Quyền Gia Ðình, Art. 3.
(65) Cf. John Paul II, Tông Huấn Familiaris consortio, n. 20 ; Hiến Chương các Quyền Gia Ðình, Art. 6.
(66) Cf. Hiến Chương các Quyền gia Ðình, Art. 2, b và c ; Art. 7
(67) Cf. John Paul II Tông Thư Familiaria consortio, nn. 36-41; Hiến Chương các Quyền Gia Ðình, Art. 5; John Paul II, Thơ gởi các Gia Ðình Gratissimam sane. n. 16.
(68) Cf. John Paul II, TôÂng Huấn Familiaria consortio, nn. 42-48; Hiến chương các Quyền Gia Ðình, Art. 8-12.
(69) Hiến Chương các Quyền Gia đình, Art, c.
(70) John Paul II, Encyclical Veritatis splendor, n. 4.
(71) John Paul II, Encyclical Evangelium vitae, n. 20; Cf. ibid., n. 19.
(72) Gohn Paul II, TÔng Huấn Familiaria consortio. n. 6; Cf Thơ gởi các Gia Ðình Gratissimam sane. n. 13.
(73) Cf. Council of
Trent, Sessions VII
và XXIX.
(74) John Paul II, Tông Huấn Familiaris consortio, n. 68.
(75) Giáo luật 1055, #1; Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, n. 1601.
(76) Cf. Second
Vatican
Council, Constitution Gaudium et Spes, n. 48-49.
(77) Cf. John Paul II, Diễn văn tại Toà Thượng Thẩm Roma,
21 January 2000
.
(78) Second
Vatican
Council, Constitution Gaudium et Spes, n. 48.
(79) Ibid.
(80) Cf. Bộ Giáo Luật và Bộ Giáo luật các Giáo Hội phương Ðông, 1983 và 1990.
(81) Cf, Second
Vatican
Council, Constitution Gaudium et Spes, n. 49.
(82) Cf. John Paul II Tông Huấn Familiaris consortio, n. 68.
(83) Cf. ibid., n. 81.
(84) John Paul II, Encyclical Veritatis splendor, n. 93.
(85) Cf. John Paul II, Bài phát biểu trong buổi Yết kiến Chung ngày 5.09.1979. Cùng với bài phát biểu này,
Chu
trình giáo lý bắt đầu được biết như là "Giáo lý về Tình Yêu nhân bản".
(86) "Chúa Kitô không chấp nhận tranh luận trên bình diện mà các nguời hầu chuyện Người cố gắng đưa Người vào đó; nói cách khác, Người không tán thành chiều kích họ ra sức nêu lên cho vấn đề. Người tránh vây mình vào những tranh luận luật pháp và thay vào đó người đã hai lần qui chiếu tới 'lúc đầu'" (ibid.
(87) "Chắc phải công nhận rằng con người luôn hiện hữu trong một nền văn hoá riêng, nhưng cũng phải công nhận rằng con người không bị định rõ toàn diện bởi nền văn hoá đó. Hơn nữa, chính sự tiến triển của các nền văn hoá chứng tỏ rằng có cái gì đó trong con người vượt hẳn những nền văn hoá này. 'Cái gì đó' là chính xác bản tính nhân loại: bản tính này là mức độ của văn hoá và là điều kiện bảo đảm con người không trở nên người tù của bất cứ nền văn hoá nào của họ, nhưng xác nhận phẩm giá cá nhân mình bằng cách sống phù hợp với chân lý sâu xa của hữu thể mình". John Paul II, Encyclical Veritatis splendor. n. 53.
(88) Luật tự nhiên "là không gì khác hơn là ánh sáng của lý trí do Chúa làm thấm vào trong chúng ta. Nhờ vậy, chúng ta biết phải làm gì và phải tránh gì. Chúa đã ban cho ánh sáng này và luật này trong Sáng Tạo". Thánh Thomas Aquinas, Summa Theologica, I-II, q. 93, a. 3, tới 2um. Cf. John Paul II, Encyclical Veritatis splendor, n. 35-53.
(89) Cf. John Paul II, Encyclical veritatis splendor, nn. 62-64.
(90) Nhờ ân sủng của hôn nhân, các vợ chồng giúp nhau đạt tới sự thánh thiện trong đời sống vợ chồng của họ và đón nhận và giáo dục con cái". Second Vatican Council, Lumen Gentium n. 11; Cf. Catechism of the catholic Church. nn. 1641-1642.
(91) John Paul II, Tông Huấn Familiaris consortio, n. 81.
(92) Ibid.
(93) Cf, nn. 4-8 nói trên.
(94) Ibid.
(95) John Paul II, Thơ gởi các Gia Ðình Gratissimam sane, n. 20.
(96) John paul II, Tông huấn Familiaris consortio, n. 55.
(97) Cf. ibid. n. 66.
(98) Hội Ðồng Giáo Hoàng đặc trách Gia đình, Chuẩn bị lãnh Bí tích Hôn Phối, 1996, n. 1.
(99) John Paul II, Encyclical Fides et ratio, n. 97.
(100) Cf. John Paul, Encyclical Evangelium vitae, n. 73.
(101) Paul VI, Encyclical Humanae vitae, n. 29.
(102) Ibid.

L' OSSERVATORE ROMANO - Tờ in rời đặc biệt -- N. 48 (1670)-
29 November 2000. Theo bản tiếng Anh

 

 


This article was published on Monday 14 December, 2009.

Back to main topic: HỌC HỎI
ĐỔ VỞ TRONG GIA Đ̀NH
KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI SỐNG GIA Đ̀NH
ĐỨC TIN VÀ SỰ CHUNG THỦY
HIỆP NHẤT TÔN GIÁO NƠI GIA Đ̀NH
HIỆP NHẤT TRONG LƯ TƯỞNG
VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH TRONG HÔN NHÂN
GIÁO DỤC CON CÁI
VAI TR̉ NGƯỜI CHỒNG TRONG GIA Đ̀NH
VAI TR̉ NGƯỜI VỢ TRONG GIA Đ̀NH
MỘT TƯ TƯỞNG B̀NH DÂN VỊÊT NAM VN
CHỮ T̀NH VÀ CHỮ YÊU
GIA Đ̀NH VỊÊT NAM QUA BỮA ĂN
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.3
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P. 1
MỤC ĐÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN
TU ĐỨC TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA Đ̀NH
SỐNG ĐẠO TRONG GIA Đ̀NH
MƯỜI ĐIỀU BẢO VỆ HẠNH PHÚC GI
NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ TAN VỠ TRONG GIA
HÔN NHÂN TRONG Ư CHÚA
LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG B̀NH THƯỜN
T̉A ÁN HÔN PHỐI
NHỮNG NGĂN TRỞ KHIẾN MỘT HÔN PHN
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
ĐẶC ÂN THÁNH PHAOLÔ

Current Reviews: 0
Write Review
Tell a friend
Tell a friend about this article:  

 
 

Articles
New Articles
All Articles
All Topics
 ABOUT FR. LINH
 ENGLISH -> (266)
 ESPAÑOL -> (274)
 TIẾNG VIỆT -> (540)
 H.Y. NG. VĂN THUẬN
 Đ.C. NG. VĂN NHO
Articles RSS Feed

Quick Find