Top » TIẾNG VIỆT » HỌC HỎI » HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1
Warning Warning: I am able to write to the configuration file: /usr/local/plesk/apache/vhosts/fatherlinh.com/httpdocs/includes/configure.php. This is a potential security risk - please set the right user permissions on this file.
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1

HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1

Lm. Huỳnh Tấn Hải, Na Uy

 

Từ ngữ hiện được dùng trong các tài liệu chính thức của Giáo hội là "hôn nhân hỗn hợp" (matrimonia mixta), ám chỉ hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không Công giáo, kể cả người đã được rửa tội trong một giáo hội Kitô khác.

I. VÀI NÉT LỊCH SỬ VÀ KỶ LUẬT CỦA GIÁO HỘI

1. Từ đầu đến cuộc Cải cách Luther

Các sách Tân ước không đề cập đến vấn đề nầy và có lẽ chỉ có một trường hợp duy nhất tạm gọi là hôn nhân hỗn hợp được thánh Phaolô bàn đến trong thư I gửi giáo đoàn Corinthô (
7:12
-16). Trường hợp nầy thường được gọi là "đặc ân Phaolô".

Tuy không được đề cập trong các chứng từ Tân ước, cuộc sống chung đụng giữa các Kitô hữu và những người không cùng niềm tin đã trở thành phức tạp liên quan đến vấn đề hôn nhân ngay từ buổi đầu cũng như suốt giòng lịch sử Kitô giáo. Cho dù chưa có một nghi lễ hôn phối riêng và thực hành theo tục lệ của đế quốc Roma, các Kitô hữu ở những thế kỷ đầu có một quan niệm rõ rệt về đặc tính đơn hôn và tính cách bất khả phân của giao ước hôn nhân, đồng thời coi đức tin là nền tảng chung của hôn nhân. Việc kết hôn với lương dân trong các thế kỷ đầu đồng nghĩa với việc bội giáo.

Những tài liệu nghiêm cấm kết hôn với lương dân cũng đã xuất hiện rất sớm. Tertulianô (+ ca. 223), trong hai tác phẩm Ad uxorem (lib. II, cap. 2, PL (2) 1291) và De corona (cap. 13, PL (2) 96) không nhìn nhận hôn ước giữa một Kitô hữu và một người không nhận biết Chúa. Thánh Ciprianô (+ 258), giám mục thành Carthage, trong tác phẩm Ad Quirinum (lib. 3, cap. 62, Corpus Christianorum Series Latina, (3) 153) xác định rõ ràng hôn nhân đó bị cấm chỉ, và trong tác phẩm De Lapsis, ngài coi đó như một hành động đĩ điếm "prostituere gentilibus membra Christi". Thánh Ambrosio (+397) vị giám mục thời danh của Milano, trong tác phẩm De Abraham (lib.I, cap. 9, n.84, in PL (14) 451) tuy có cái nhìn bao dung hơn đối với hôn nhân hỗn hợp khi ngài chú giải sách Khởi nguyên về chuyện Abraham, nhưng ngài vẫn coi hôn nhân hỗn hợp là điều cấm cản do luật Chúa.

Công nghị đầu tiên bàn vấn đề hôn nhân hỗn hợp có lẽ là công đồng Elvira (Tây ban nha), khoảng năm 303. Công đồng công bố 4 khoản luật với những phân tích tỉ mỉ về tình trạng của đôi bên, khi bên nữ hay bên nam là lương dân hay lạc giáo. Công đồng rất khắt khe với hôn nhân giữa một người nữ Công giáo với một người nam lương dân hay lạc giáo, coi đó là cuộc "adulterio animae" (ngoại tình tâm hồn) và phải chịu hình phạt tuyệt thông cho đến khi phía không Công giáo hứa chấp nhận sống đức tin Công giáo.

Ðến hậu bán thế kỷ thứ IV, công đồng
Laodicea
đưa ra hai khoản luật nghiêm cấm hôn nhân hỗn hợp và hình phạt cả cho bên nam lẫn bên nữ.

Công đồng Calcedonia (451) là biến cố lịch sử đánh dấu giai đoạn kết thúc cuộc tranh luận về Ðức Tin liên quan đến mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa với việc kết án lạc giáo Nestorio phủ nhận thần tính của Chúa Giêsu. Ảnh hưởng đến việc bảo vệ Ðức Tin, các nghị phụ công đồng cũng giải quyết vấn đề mục vụ hôn nhân giữa một bên là Công giáo và bên kia theo lạc giáo Nestorio. Tiêu chuẩn được đặt ra ở đây là bí tích rửa tội và trách nhiệm giáo dục đức tin cho con cái. Hôn nhân giữa một người Công giáo và một người theo phái Nestorio có thể được nhìn nhận nếu người đã rửa tội trong lạc giáo trở về hiệp thông với Giáo hội Công giáo, nếu chưa được rửa tội thì chỉ được rửa tội trong Giáo hội Công giáo, con cái phải được rửa tội và giáo dục trong đức tin Công giáo. Như vậy, với công đồng Calcedonia, hôn nhân hỗn hợp tuy vẫn bị cấm chỉ nhưng bắt đầu có luật trừ.

Công đồng Orleans II (năm 533) cấm một người Công giáo kết hôn với một người theo Do thái giáo với vạ tuyệt thông cho đến khi hai người không còn sống chung.

Tính cách vô hiệu và luật cấm đối với hôn nhân giữa một người Công giáo và một người theo lạc giáo được minh định rõ ràng hơn cả là trong khoản luật số 72 của công đồng Trullo (năm 975). Sau công đồng Trullo, các tài liệu của Giáo hội không thấy bàn vấn đề hôn nhân hỗn hợp nữa. Mãi đến năm 1140, sắc lệnh Graziano đúc kết tất cả các luật cấm đã có từ trước: hôn nhân giữa một bên là Công giáo và bên kia là lương dân, người theo lạc giáo hay theo Do thái giáo. Sắc lệnh nêu lên lý do ngăn cấm là vì phía người Công giáo có nguy hiểm không thể giữ đức tin cũng như không thể cầu nguyện chung.

Sau khi sắc lệnh Graziano ra đời, một phong trào nghiên cứu hôn nhân hỗn hợp rất sôi nổi nơi các nhà thần học luân lý. Ðiểm chính mà nhà thần học bận tâm trong việc giải thích sắc lệnh là mức độ ngăn trở hôn nhân do yếu tố khác tín ngưỡng (disparitatis cultus). Không thể coi sự ngăn trở hôn nhân như nhau giữa một bên là Công giáo và bên kia là người được rửa tội trong lạc giáo, theo Do thái giáo hay lương dân. Giữa những người theo lạc giáo cũng được chia làm 4 mức độ khác nhau. Ðóng góp đáng kể nhất của các nhà thần học luân lý sau sắc lệnh Graziano, có lẽ là Uguccione, giáo sư tại Bologna, về sau là giám mục tại Ferrara (một trong những học trò của Uguccione sau nầy là Ðức Giáo hoàng Innocenzo
III
).

Ðiểm mới do Uguccione đem lại đó là: ngăn trở do khác tín ngưỡng chỉ nhằm với ai không được rửa tội; các Kitô hữu không thể kết hôn với người theo lạc giáo, nhưng nếu họ kết hôn, thì hôn nhân đó thành sự; bí tích rửa tội là nền tảng của hôn nhân Kitô giáo, vì thế khác biệt niềm tin giữa người Công giáo và người theo lạc giáo không thể là lý do tiêu hôn. Quan điểm của Uguccione được phổ biến và chấp nhận (Xem F. Cantelar, El matrimonio de herejes. Bifurcación del impedimento dis paritatis cultus y divorcio por herejía, Salamanca 1972, 61-135).

Nhưng từ thế kỷ XII, các lạc giáo gia tăng, và có nhiều nhóm lạc giáo không thực hành bí tích rửa tội. Vấn đề hôn nhân giữa người Công giáo và người theo lạc giáo được đặt lại. Nhiều công nghị miền thuộc các quốc gia Pháp, Bỉ, Ba lan, Ðức áp dụng kỷ luật khắc khe hơn đối với hôn nhân hỗn hợp, nghĩa là buộc người theo lạc giáo phải trở lại Công giáo thì hôn nhân mới thành sự.

2. Hôn nhân hỗn hợp giữa người Công giáo và Tin lành

Ðầu thế kỷ XVI, cuộc Cải cách do Luther khởi xướng tạo cuộc ly khai mới. Nhìn từ phía Giáo hội Công giáo, cuộc Cải cách của Luther xuất hiện như một lạc giáo trong thế giới Kitô giáo Tây phương. Công đồng Trento (từ năm 1545 đến 1563, do Ðức Phaolô
III
triệu tập) đã cứu xét và kết án những luận đề do phong trào Cải cách Luther đưa ra. Trong khoá họp thứ 24 ngày 11 tháng 11 năm 1563 công đồng có đề cập đến vấn đề hôn nhân giữa người Công giáo và người theo Tin lành. Sắc lệnh Tametsi ra đời như kết quả của khóa họp 24, đưa ra một thủ tục cử hành hôn lễ với khuôn khổ có tính cách giáo luật (forma canonica) như điều kiện cốt yếu để hôn nhân giữa những người Công giáo thành sự, đồng thời nhằm ngăn chận tình trạng có nhiều hôn nhân cử hành kín, đặc biệt giữa người Công giáo và người theo Tin lành. Khuôn khổ giáo luật đó là, bất cứ một hôn nhân nào muốn cử hành thành sự đều phải cử hành công khai với ít nhất có sự hiện diện của hai người chứng Công giáo, sự hiện diện và chúc hôn của cha sở Công giáo. Hôn nhân giữa người Công giáo và người Tin lành không thành sự, và tất cả các cuộc hôn nhân hỗn hợp đã được cử hành kín trước đó cũng đều vô hiệu vì thiếu "forma canonica".

Tình trạng bành trướng mau chóng của phong trào Cải cách tại các nước Bắc và Trung Âu châu vào thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII đã làm cho các chủ chăn nơi các nước nầy lo âu. Nhiều công đồng miền được triệu tập để giải quyết vấn đề hôn nhân hỗn hợp giữa Công giáo và Tin lành (chẳng hạn, công đồng miền tại Milano, Ý, năm 1569, tại Antwerp, Ðức, năm 1576, Bordeaux, Pháp, năm 1583, Cambrai, Pháp, năm 1586, Toulouse, Pháp, năm 1590, Antwerp và Augsburg, Ðức, năm 1610, Liège, Bỉ, năm 1618, Ko¨¨hl, Ðức năm 1651) với chủ đích là áp dụng kỷ luật nghiêm nhặt hơn. Mọi hôn nhân hỗn hợp giữa Công giáo và Tin lành đều bị cấm, chỉ có điều kiện duy nhất là người theo Tin lành phải trở lại Công giáo.

Tuy nhiên, hôn nhân giữa người Công giáo và Tin lành ngày càng gia tăng, đặc biệt có những cuộc hôn nhân đã được cử hành giữa giới quí tộc và những người có ảnh hưởng trong lãnh vực chính trị. Tình trạng nầy làm cho việc áp dụng sắc lệnh Tametsi trở nên khó khăn. Vì thế, với nhiều áp lực khác nhau, ngày 04 tháng 11 năm 1741, Ðức Giáo hoàng Benedetto XIV ban hành tông thư Matrimonia, quae in locis, không còn đòi buộc "forma canonica", đồng thời hợp thức hoá những cuộc hôn nhân đã được cử hành trước đó giữa người Công giáo và người Tin lành không có phép chuẩn này. Nhưng vài năm sau, cũng chính Ðức Benedetto XIV, trong tông thư Magnae Nobis gửi Hội đồng Giám mục Ba lan, ban hành ngày 29 tháng 06 năm 1748, nêu vấn đề phép chuẩn dành riêng cho Ðức thánh cha đối với hôn nhân hỗn hợp giữa người Công giáo và Tin lành. Phép chuẩn nầy chỉ áp dụng trong trường hợp rất đặc biệt như hôn nhân của những phần tử thuộc hoàng tộc có ảnh hưởng nghiêm trọng đến công ích, và trước khi ban phép chuẩn, Toà thánh cũng luôn đặt vấn đề trở lại Công giáo của phía không Công giáo.

Vấn đề hôn nhân giữa người Công giáo và Tin lành càng ngày càng trở nên phức tạp và tế nhị hơn. Tình trạng khó khăn và xao lãng đức tin của phía người Công giáo và con cái được sinh ra trong các nhân hỗn hợp mỗi ngày càng làm cho giáo triều Roma bận tâm, trong khi đó, các vị chủ chăn tại các Giáo hội địa phương phải đối diện với nhiều khó khăn liên quan đến việc áp dụng sắc lệnh Tametsi. Năm 1782, Ðức Tổng giám mục Malines, theo yêu cầu của chính phủ Bỉ, đã xin Ðức thánh cha Pio VI khoan dung hơn trong vấn đề hôn nhân hỗn hợp, đồng thời cho các cha sở Công giáo chứng hôn trong các cử hành hôn lễ nầy. Về việc khoan dung hơn đối với hôn nhân hỗn hợp, Ðức thánh cha Pio VI tái xác nhận kỷ luật của các vị tiền nhiệm và không chấp nhận một phép chuẩn phổ quát cho mọi trường hợp, nghĩa là phép chuẩn vẫn dành riêng cho Ðức thánh cha, đồng thời chỉ dành cho những trường hợp có lý do nghiêm trọng và ảnh hưởng đến công ích. Ðối với việc chứng hôn của cha sở công giáo, Ðức thánh cha trả lời: Khi không thể ngăn cản một hôn ước hỗn hợp giữa một người Công giáo và một người theo Tin lành và biết chắc chắn là hai người sẽ tiến đến hôn nhân, cha sở Công giáo có thể chứng hôn với các điều kiện: hôn lễ không được tiến hành ở nơi thánh; phía không Công giáo phải cam kết bằng giấy tờ là phải để cho người bạn Công giáo được tự do sống đức tin Công giáo đồng thời con cái sinh ra trong hôn nhân được giáo dục trong đức tin Công giáo. Phía Công giáo phải công khai tuyên bố trước mặt hai người chứng là không chỉ trung thành với đức tin Công giáo mà còn phải giáo dục đức tin Công giáo cho con cái, ngăn ngừa để chúng khỏi bị những ảnh hưởng nghịch đức tin Công giáo (Pius VI, rescript. Ad Card. Archiep. Mechlinien., in Fontes CIC (2), 471).

Với cách trả lời của Ðức Piô VI cho phép có điều kiện các hôn nhân hỗn hợp được chứng bởi cha sở công giáo, chúng ta thấy bắt đầu hé mở một hình thức phép chuẩn cho hôn nhân hỗn hợp.

Hôn nhân hỗn hợp giữa một bên là Công giáo và bên kia là Tin lành được minh định rõ hơn qua văn thư trả lời của Bộ Truyền giáo gửi Ðại diện Tông toà tại Thụy điển (sau hơn 200 năm đoạn giao, năm 1783 vua Gustav
III
của Thụy điển (và cũng là vua của Na uy) đã bang giao với Toà thánh, đại diện Tông toà đã được thiết lập tại Stockholm). Năm 1785, vị đại diện Tông toà tại Thụy điển xin bộ Truyền giáo để các đôi hôn nhân hỗn hợp được cử hành trong các nhà thờ Công giáo và được chúc hôn bởi các linh mục Công giáo. Bộ đã không chấp nhận lời xin của vị đại diện Tông toà, đồng thời yêu cầu đừng bận tâm đến các nố hôn nhân nầy, hãy cứ để các mục sư Tin lành chứng hôn. Ngoài ra, bộ cho phép vị đại diện Tông toà và các linh mục Công giáo, trong trường hợp thấy hữu ích, có thể chứng hôn nhưng không có nghi thức chúc lành và không cùng hiện diện với thừa tác viên Tin lành cũng như không cử hành trong nhà thờ Tin lành (S.C. de Prop. Fide, instr. Ad Vic. Ap. Sveciae, 6.9.1785, in Fontes CIC (7) 4606).

Văn thư nầy cũng xác định những lý do ngăn trở của hôn nhân hỗn hợp: (1) nguy hiểm cho phía bên Công giáo không thể sống đức tin của mình, (2) nếu bên lạc giáo không trở lại Công giáo thì hôn nhân đó không thành sự, do luật tự nhiên cũng như luật Chúa, cho dù có bất cứ phép chuẩn nào. Một hôn nhân đưa đến một tương lai có nguy hiểm mất đức tin và con cái không được giáo dục trong lòng Giáo hội Công giáo thì không khi nào được phép.

Năm 1825, dân luật của một số miền thuộc nước Ðức ngày nay đòi các linh mục phải chứng và chúc lành cho các đôi hôân nhân hỗn hợp, đồng thời không có điều kiện nào về đời sống đức tin của con cái trong các đôi hôn phối nầy, chúng phải theo tôn giáo của người cha. Ðức Giáo hoàng Piô VIII, trong thư Litteris altero gửi cho các giám mục K¨¨o¨¨hl,
Munster, Paderborn
, phản ứng chống lại việc áp đặt nầy và tái xác nhận quan điểm của Giáo hội Công giáo về hôn nhân hỗn hợp. Chỉ trong những trường hợp nghiêm trọng, hôn nhân nầy mới được phép chuẩn dành riêng cho Toà thánh.

Dân luật đòi các linh mục phải chứng hôn cho các hôn nhân hỗn hợp càng ngày càng cứng rắn, đặc biệt trong vùng Bavarie. Vì thế vào năm 1832, Ðức Giáo hoàng Gregoriô XVI phải ra tông thư Summo iugiter để chỉ thị các giám mục vùng Bavarie phải trung thành với luật của Giáo hội Công giáo đối với hôn nhân hỗn hợp. Tuy nhiên để áp dụng kỷ luật của Giáo hội theo tông thư Summo iugiter trong những vùng luật dân sự đòi các linh mục phải hiện diện trong các hôn lễ, Phủ Quốc vụ khanh Toà thánh, xác nhận ngăn trở khác tín ngưỡng nhưng cho phép các linh mục Công giáo hiện diện trong lúc đôi hôn nhân bày tỏ sự ưng thuận theo như dân luật đòi hỏi, dù Giáo hội không nhìn nhận các hôn nhân đó thành sự.

Áp lực từ phía dân luật vẫn lan rộng trong các nước Âu châu khác, chẳng hạn Hội đồng giám mục Thụy sĩ dự định cho áp dụng thử các đòi hỏi của dân luật buộc các cha sở Công giáo chứng và chúc hôn các hôn nhân hỗn hợp mà không cần xét đến sự khác biệt niềm tin của hai người, đồng thời bỏ các hình phạt theo Giáo luật. Khuynh hướng nầy cũng ảnh hưởng tại Hung gia lợi. Ðể chận đứng tình trạng nầy, Ðức Giáo hoàng Gregoriô XVI đã ban hành tông thư Commissum divinitus năm 1835 tái xác quyết là Giáo hội không thể chấp nhận các khoản luật như thế. Vào năm 1841 ngài đã gửi thư cho các giám mục Hung gia lợi không được chứng và chúc hôn cho các cuộc hôn nhân hỗn hợp. Ngài cũng minh định rõ ràng, trong những trường hợp đặc biệt vì sự đòi buộc của dân luật hoặc do ước muốn của đôi tân hôn cần có sự hiện diện của linh mục Công giáo trong cử hành hôn nhân hỗn hợp thì linh mục Công giáo có thể hiện diện một cách thụ động trong lúc thừa tác viên Tin lành chứng và chúc hôn. Sự hiện diện thụ động nầy cũng không có nghĩa là hôn nhân đó hợp pháp và thành sự.

Kể từ cuộc Cải cách Tin lành vào giữa thế kỷ XVI, hôn nhân giữa người Công giáo và Tin lành càng ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn những khó khăn. Cũng vì thế hôn nhân hỗn hợp hầu như chỉ còn hiểu là hôn nhân giữa một người Công giáo và một người Tin lành. Cho dù áp lực của chính quyền dân sự tại các nước Âu châu trên vai trò của linh mục Công giáo đối với cử hành hôn lễ giữa người Công giáo và Tin lành, kỷ luật của Giáo hội Công giáo mãi đến cuối thế kỷ XIX vẫn theo sắc lệnh Tametsi của công đồng Trento (1563) và tông thư Magnae nobis của Ðức Giáo hoàng Benedetto XIV (1748), nghĩa là, hôn nhân giữa một người Công giáo và một người Tin lành không thành sự nếu không có phép chuẩn, và phép chuẩn chỉ dành riêng cho Ðức thánh cha trong một số trường hợp rất đặc biệt đối với những cuộc hôn nhân có ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội.

Dĩ nhiên việc áp dụng sắc lệnh Tametsi gặp nhiều khó khăn nơi các vùng đa số theo Tin lành. Thỉnh thoảng các giám mục đành làm ngơ trong việc thi hành kỷ luật của sắc lệnh, chẳng hạn như ở Ðức, ở Hung gia lợi. Sang đầu thế kỷ XX, Ðức Piô X ban hành Hiến chế Provida (1906) và sắc lệnh Ne temere (1907) để xác định lại kỷ luật của sắc lệnh Tametsi, đồng thời ấn định rõ ràng thủ tục hôn nhân Công giáo. ( Cũng nên biếtø, mãi đến thế kỷ XVI, Giáo hội chưa có một qui định rõ rệt về cử hành hôn lễ. Ngoài đặc tính đơn hôn và bất khả phân, việc cử hành hôn lễ giữa những người Công giáo vẫn theo thủ tục dân sự ở các địa phương).

Hiến chế Provida đòi buộc mọi cuộc hôn nhân giữa người Công giáo tại Ðức phải hội đủ hình thức giáo luật (forma canonica) như đã được sắc lệnh Tametsi qui định. Nghĩa là phải cử hành công khai trước sự hiện diện của hai người Công giáo, và phải do linh mục Công giáo chứng hôn. Với sắc lệnh Ne temere, Ðức Piô X đòi buộc áp dụng gắt gao kỷ luật của sắc lệnh Tametsi trên toàn Giáo hội Công giáo. Từ nay quyền tài thẩm của các cha sở và giáo quyền địa phương trong vấn đề hôn nhân được qui định rõ ràng theo lãnh thổ. Kể từ Phục sinh năm 1908, mọi cuộc hôn nhân hỗn hợp được cử hành ngoài nhà thờ Công giáo đều không chỉ bất hợp pháp mà còn bất thành.

Cũng từ thời Ðức Piô X, có một nhu cầu cấp bách trong Giáo hội Công giáo là cần có những qui định thống nhất và phổ quát trong mọi lãnh vực của đời sống Giáo hội và trên toàn Giáo hội. Một bộ Giáo luật bắt đầu được nghĩ tới và soạn thảo trong suốt thời đại của ngài cũng như của vị giáo hoàng kế tiếp là Ðức Benedetto XV. Việc ban hành những điều luật phổ quát và thống nhất cho toàn Giáo hội liên quan đến hôn nhân hỗn hợp, chứ không chỉ là những kỷ luật được áp dụng riêng cho từng miền, từng quốc gia như trước, cũng là một trong những bận tâm chính của việc ra đời bộ Giáo luật.

3. Bộ Giáo luật 1917 và vấn đề hôn nhân hỗn hợp

Lần đầu tiên một bộ luật chung áp dụng cho toàn Giáo hội được ban hành ngày 19 tháng 05 năm 1917. Các khoản 1060-1064 bàn về kỷ luật, phép chuẩn và mục vụ đối với các hôn nhân hỗn hợp. Khoản 1094 đòi hỏi những điều kiện theo giáo luật. Khoản 1102 hướng dẫn thủ tục cử hành và khoản 2319 nêu lên những hình phạt cho các trường hợp không tuân theo các khoản luật trên.

Trước hết, khoản 1060 xác định: Giáo hội Công giáo nghiêm cấm hôn nhân giữa hai người đã rửa tội, trong đó một người thuộc Giáo hội Công giáo và người kia thuộc ly giáo, bởi vì hôn nhân nầy nguy hại đến đức tin của người Công giáo cũng như của con cái. Phần hai của khoản luật cho biết, việc ngăn cấm nầy không chỉ do luật của Giáo hội, nhưng còn do bởi luật Chúa.

Ðể một hôn nhân hỗn hợp có thể được cử hành hợp pháp, khoản 1061 đòi buộc phải có phép chuẩn với những điều kiện rất khắt khe: (1) phải có những lý do nghiêm trọng và chính đáng (được hiểu là ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội, chẳng hạn hôn nhân của các vua chúa); (2) phải bảo đảm không có nguy hiểm về đức tin cho phía người Công giáo và con cái được sinh ra trong hôn nhân đó; (3) hai người phải bày tỏ ý muốn rõ ràng về những điểm trên. Ngoài Ðức thánh cha, thẩm quyền có thể cứu xét và ban phép chuẩn chỉ dành cho bộ Ðức Tin, và bộ Truyền giáo đối với những xứ thuộc thẩm quyền của bộ nầy. Các đức giám mục, các đại diện tông toà không có thẩm quyền ban phép chuẩn.

Khoản 1063 cấm những đôi đã nhận phép chuẩn không được bày tỏ lời cam kết hôn phối trước mặt một thừa tác viên không thuộc Giáo hội Công giáo, cả trước cũng như sau khi cử hành hôn lễ Công giáo. Khoản luật nầy cũng cấm các cha sở không được cử hành hôn lễ khi hay biết một hôn nhân hỗn hợp đã nhận phép chuẩn nhưng có ý định bày tỏ lời cam kết trước thừa tác viên không thuộc Giáo hội công giáo.

Về thủ tục cử hành hôn nhân hỗn hợp, khoản 1102 chẳng những tuyệt đối cấm cử hành trong thánh lễ, mà cấm cả việc ban phép lành hay đọc lời nguyện, chỉ được cử hành kín đáo và đơn giản hết sức có thể để tránh gương xấu. Từ đó, thói quen được áp dụng là các hôn nhân hỗn hợp chỉ cử hành trong phòng mặc áo của nhà thờ.

Khoản luật cuối cùng của bộ Giáo luật 1917 liên quan đến hôn nhân hỗn hợp là hình phạt cho những bất tuân các kỷ luật trên. Khoản 2319 nêu lên 4 trường hợp vi phạm kỷ luật sau đây: (1) bày tỏ hay lặp lại lời kết hôn trước mặt một thừa tác viên không thuộc Giáo hội Công giáo; (2) không giáo dục đức tin Công giáo cho con cái; (3) để con cái được rửa tội bởi một thừa tác viên không thuộc Giáo hội công giáo; (4) họ hàng hay bất cứ ai dạy dỗ con trẻ một niềm tin không phải là đức tin Công giáo. Hình phạt cho 4 trường hợp trên là bị "dứt phép thông công".

Tóm lại, bộ Giáo luật 1917 chỉ xác nhận và hệ thống hoá những kỷ luật đã được áp dụng cho các trường hợp riêng trước đây. Tính cách phổ quát và thống nhất của bộ Giáo luật, một đàng giúp các chủ chăn dễ dàng chu toàn trách nhiệm liên quan đến việc cử hành hôn nhân hỗn hợp, đàng khác tạo khó khăn và phức tạp cho một số trường hợp, chẳng hạn, ở những miền mà luật dân sự không cho phép các linh mục đòi buộc các đôi hôn nhân giáo dục đức tin Công giáo cho con cái. Những khó khăn phức tạp đó đã làm cho bộ Ðức Tin phải tìm những biện pháp thích ứng.

4. Can thiệp của bộ Ðức Tin

Nhằm giải quyết những trường hợp phức tạp, bộ Ðức Tin đã can thiệp vào vấn đề hôn nhân hỗn hợp. Vấn đề chính yếu là đòi buộc con cái phải được giáo dục trong đức tin Công giáo. Có một số miền, chính quyền dân sự không cho phép linh mục Công giáo, khi cử hành hôn lễ hỗn hợp, đòi buộc đôi hôn nhân đó phải giáo dục con cái trong đức tin Công giáo. Có những nơi, văn hoá địa phương xác định con cái phải theo tôn giáo của cha, hoặc, con trai theo tôn giáo của cha, con gái theo tôn giáo của mẹ. Giáo hội không chấp nhận những tập tục trên liên quan đến hôn nhân hỗn hợp. Ngày 14 tháng 01 năm 1932, bộ Ðức Tin ban hành một sắc lệnh nhắc lại điều kiện bó buộc trong mọi trường hợp, con cái trong hôn nhân hỗn hợp phải được rửa tội và giáo dục đức tin Công giáo: Vì đây là đòi buộc theo luật Chúa nên không một ai có quyền miễn chước. Nếu thiếu điều kiện nầy, không thể ban phép chuẩn và các giám mục, linh mục phải khước từ chứng hôn (S.C.S.Off., in
AAS
24 (1932), 25). Ðiều kiện nầy dĩ nhiên đã ngăn cản không cho một số hôn nhân hỗn hợp nhận phép chuẩn.

Tuy nhiên, có những trường hợp, đôi hôn nhân thật tâm muốn chu toàn điều kiện nầy, nhưng họ không thể làm được. Chẳng hạn vì ngăn cản của cha mẹ bên phía người không Công giáo. Vào năm 1938, một số vị chủ chăn đã trình vấn đề lên bộ Ðức Tin. Trong thư trả lời cho đại diện Tông toà tại quần đảo Sonda vào tháng 02 năm 1938, và cho các giám mục Nhật bản ngày 21 tháng 04 năm 1938, bộ Ðức Tin đã dùng nguyên tắc luân lý song hiệu để giải thích đòi buộc giáo dục đức tin cho con cái trong hôn nhân hỗn hợp. Hôn nhân hỗn hợp có thể đưa đến hai hiệu quả. Sự kiện con cái không được giáo dục trong đức tin Công giáo là hiệu quả xấu bên cạnh hiệu quả tốt là việc hai người kết hợp trong tình yêu theo chương trình của Ðấng tạo thành. Hôn nhân của hai người chỉ được phép khi họ không trực tiếp để cho hiệu quả xấu xảy ra. Ðể áp dụng nguyên tắc song hiệu nầy, đôi hôn nhân phải có những lý do tương xứng. Bất cứ những lý do tương xứng nào cũng đòi ý muốn dứt khoát của họ là cố gắng hết sức để chu toàn việc giáo dục con cái trong đức tin Công giáo.

Ðòi buộc khắt khe về việc giáo dục đức tin Công giáo cho con cái dẫu sao trước sau vẫn là lời hứa của đôn hôn nhân, tuy nhiên với cách giải trích trên đây, đòi buộc đó có tích cách uyển chuyển hơn. Có nghĩa là đôi hôn nhân cam kết làm hết sức có thể để chu toàn trách nhiệm nầy, và trong trường hợp họ không thể chu toàn điều kiện nầy ngược với ý muốn của họ, thì họ không gánh chịu hình phạt theo Giáo luật 2319 qui định.

Cuối cùng, nhân dịp trả lời thắc mắc cho giám mục của giáo phận Fuknokashi (Nhật bản), bộ Ðức Tin ban hành một sắc lệnh ngày 27 tháng 04 năm 1961, cho phép ban phép chuẩn cho hôn nhân hỗn hợp, cả trong trường hợp bất cứ vì lý do gì, phía người không thuộc Giáo hội Công giáo không muốn hoặc không thể hội đủ những lý do tương xứng - tức chấp nhân để con cái được giáo dục trong đức tin Công giáo - mà chỉ phía bên người Công giáo cam kết chu toàn trách nhiệm nầy với hết sức của mình (S.C.S. Off., Resp. Ad Ord. Fukuokae¨¨n, 27.04.1961, in LE n.2982 (3) 4182-4183).

5. Công đồng Vaticanô II và hôn nhân hỗn hợp

Trong thời gian chuẩn bị công đồng, một tài liệu về kỷ luật bí tích Hôn nhân gồm 7 chương, trong đó có một chương bàn về hôn nhân hỗn hợp, đã được đưa ra bàn thảo năm 1962. Tài liệu lại được bàn trong phiên họp chung ngày 23 tháng 01 năm 1964 nhưng đã không được các nghị phụ thông qua. Ủy ban điều hợp công đồng yêu cầu ban Phụng vụ tóm kết tài liệu thành những điểm chính, làm sao cho tài liệu về kỷ luật hôn nhân, đặc biệc là hôn nhân hỗn hợp, có thể hài hoà với quan điểm tự do tôn giáo cũng như ưu tư đối thoại và hiệp nhất với mọi Giáo hội Kitô của công đồng.

Ban Phụng vụ đã đúc kết kỷ luật về hôn nhân hỗn hợp thành 4 điểm sau:

a. Phía người Công giáo thật tâm hứa và cố gắng hết sức có thể (in quantum poterit) để con cái được rửa tội và giáo dục trong đức tin Công giáo. Về phía người không Công giáo chỉ được yêu cầu biết những lời hứa của bạn mình, được trình bày về ý nghĩa, về những quyền lợi, nghĩa vụ và mục đích của hôn nhân, và không có một đòi buộc nào.

b. Các đôi hôn nhân hỗn hợp phải được cử hành phù hợp với nghi lễ của Giáo hội mình và giáo quyền địa phương cũng có thể ban phép chuẩn để các đôi hôn nhân nầy bày tỏ lời cam kết hôn nhân theo một thủ tục dân sự.

c. Hủy bỏ hình phạt dứt phép thông công cho những người cử hành hôn lễ trước mặt một thừa tác viên không thuộc Giáo hội công giáo.

d. Các hôn nhân hỗn hợp được cử hành trong thánh lễ như mọi hôn nhân bình thường (G. Caprile, Il Concilio Vaticano, vol.
III
& IV, Roma, 1967, 493-497).

So với kỷ luật của bộ Ðức Tin, những điểm vừa nêu cho thấy quá rộng. Vấn đề được thảo luận suốt trong 2 ngày 19 và 20 tháng 11 năm 1964 cho thấy ý kiến các nghị phụ trái ngược nhau và đa số đều không đồng ý với tất cả những điểm nêu trên. Cuối cùng, Ðức Hồng y Doepfner, điều hợp viên của phiên họp, đề nghị ngưng cuộc thảo luận, đúc kết tất cả mọi ý kiến và chuyển đệ lên Ðức Thánh Cha để tùy ngài quyết định. Kết quả là 1592 nghị phụ tán đồng đề nghị của ÐHY Dopfner, 247 vị không đồng ý và 5 vị bỏ phiếu trắng. Vì vậy, một văn kiện về hôn nhân hỗn hợp đã không ra đời trong công đồng Vaticanô II. Thay vào đó, ngày 18 tháng 03 năm 1966, bộ Ðức Tin đã ban hành qui chế Matrimonii sacramentum (Bí tích Hôn nhân) với tính cách thử nghiệm (ad esperimentum).

 


This article was published on Monday 14 December, 2009.

Back to main topic: HỌC HỎI
ĐỔ VỞ TRONG GIA Đ̀NH
KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI SỐNG GIA Đ̀NH
ĐỨC TIN VÀ SỰ CHUNG THỦY
HIỆP NHẤT TÔN GIÁO NƠI GIA Đ̀NH
HIỆP NHẤT TRONG LƯ TƯỞNG
VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH TRONG HÔN NHÂN
GIÁO DỤC CON CÁI
VAI TR̉ NGƯỜI CHỒNG TRONG GIA Đ̀NH
VAI TR̉ NGƯỜI VỢ TRONG GIA Đ̀NH
MỘT TƯ TƯỞNG B̀NH DÂN VỊÊT NAM VN
CHỮ T̀NH VÀ CHỮ YÊU
GIA Đ̀NH VỊÊT NAM QUA BỮA ĂN
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.4
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.3
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P. 1
MỤC ĐÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN
TU ĐỨC TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA Đ̀NH
SỐNG ĐẠO TRONG GIA Đ̀NH
MƯỜI ĐIỀU BẢO VỆ HẠNH PHÚC GI
NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ TAN VỠ TRONG GIA
HÔN NHÂN TRONG Ư CHÚA
LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG B̀NH THƯỜN
T̉A ÁN HÔN PHỐI
NHỮNG NGĂN TRỞ KHIẾN MỘT HÔN PHN
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
ĐẶC ÂN THÁNH PHAOLÔ

Current Reviews: 0
Write Review
Tell a friend
Tell a friend about this article:  

 
 

Articles
New Articles
All Articles
All Topics
 ABOUT FR. LINH
 ENGLISH -> (266)
 ESPAÑOL -> (274)
 TIẾNG VIỆT -> (540)
 H.Y. NG. VĂN THUẬN
 Đ.C. NG. VĂN NHO
Articles RSS Feed

Quick Find