Top » TIẾNG VIỆT » HỌC HỎI » HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2

HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2

Lm. Huỳnh Tấn Hải, Na Uy

 

6. Từ qui chế Matrimonii sacramentum đến Thượng Hội đồng các giám mục năm 1967

Qui chế Matrimonii sacramentum nêu lên những điều kiện khắt khe hơn những điểm đã được đưa ra thảo luận trong công đồng chung năm 1964. Sau đây là những điểm qui chế đòi buộc các hôn nhân hỗn hợp:

- Về phía người Công giáo, đòi buộc phải hứa trung thành với đức tin Công giáo, con cái phải được rửa tội và giáo dục trong đức tin Công giáo. (Qui chế bỏ chữ "in quantum poterit").

- Phía người không Công giáo, không chỉ phải hiểu rõ ý nghĩa và mục đích của hôn nhân Kitô giáo mà còn phải thật lòng hứa không gây trở ngại cho mục đích đó (trong đó có cả việc con cái được giáo dục trong đức tin Công giáo). Trong trường hợp lời hứa nầy không được thực hiện rõ ràng, cần phải chuyển đạt lên Toà Thánh để giải quyết;

- Riêng đối với những vùng mà theo luật dân sự hay theo tập tục, việc giáo dục đức tin Công giáo cho con cái bị ngăn cấm, giáo quyền địa phương có thể miễn chuẩn cho phía người Công giáo thể hiện công khai lời hứa thứ nhất trên.

- Trong khi cử hành hôn lễ, thủ tục phù hợp giáo luật phải được tôn trọng để hôn nhân thành sự. Trong trường hợp gặp khó khăn, giáo quyền địa phương cần tham khảo ý kiến của Toà thánh.

Qui chế cũng giữ lại 2 đòi buộc đã được minh định từ năm 1938, đó là, để được phép chuẩn phải có những lý do nghiêm trọng và đôi hôn phối phải bày tỏ ý muốn rõ ràng về các lời hứa.

Ngoài ra, qui chế cũng nới rộng:

- Phép chuẩn cho hôn nhân hỗn hợp không dành riêng cho Toà thánh nhưng cho mọi giám mục có nhiệm sở.

- Hủy bỏ khoản luật 1102, 2 và 1109, 3. Cho phép giáo quyền địa phương dùng các lễ nghi phụng vụ, ban phép lành; cho phép thừa tác viên không thuộc Giáo hội Công giáo đọc vài lời nguyện chung, hay nói vài lời chúc mừng đôi tân hôn, nhưng cũng không được cử hành trong thánh lễ;

- Hủy bỏ khoản luật 2319, 1 dứt phép thông công những ai cử hành hôn lễ trước mặt một thừa tác viên không thuộc Giáo hội Công giáo.

Qui chế Matrimonii sacramentum được ban hành để thử nghiệm trong khi chờ đợi một giáo huấn đầy đủ hơn cho vấn đề hôn nhân hỗn hợp. Thượng hội đồng Giám mục năm 1967 đã dành ưu tiên cho vấn đề nầy.

Ngày 16 tháng 10 năm 1967, các nghị phụ của Thượng hội đã đối diện với đề tài hôn nhân hỗn hợp do Ðức Hồng Y Marella thuyết trình. Sau khi nêu lên những khó khăn, nguy hiểm do hôn nhân hỗn hợp gây ra cho đời sống đức tin, Ðức Hồng y kêu gọi trách nhiệm của Giáo hội trong việc rao giảng và bảo vệ chân lý đức tin nơi con cái mình. Phép chuẩn cho hôn nhân hỗn hợp cần phải nêu cao lời cam kết không để cho đức tin bị nguy hiểm trong hôn nhân. Nơi phần kết luận, bài thuyết trình nêu lên 2 phần:

Phần I đưa ra hai nguyên tắc căn bản:

- Giáo hội không coi hôn nhân giữa một người Công giáo và một Kitô hữu đã được rửa tội trong một Giáo hội Kitô với hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không rửa tội như nhau;

- Giáo hội không coi hôn nhân giữa một người Công giáo và một Kitô hữu không Công giáo thuộc Giáo hội Ðông phương với hôn nhân giữa một người Công giáo và một Kitô hữu không Công giáo thuộc Giáo hội Tây phương như nhau.

Vì sự phân biệt trên, phần II nêu lên những vấn đề để xác định từ ngữ và điều kiện của phép chuẩn:

- Chỉ phân biệt hai loại ngăn trở: khác tín ngưỡng và khác Giáo hội. Ðể ban phép chuẩn cho hai loại ngăn trở trên, giáo quyền cần biết chắc phía người Công giáo không có nguy hiểm mất đức tin và con cái được rửa tội, được giáo dục trong đức tin Công giáo; phía người không Công giáo ý thức những ràng buộc và mục đích của hôn nhân và không cấm cản con cái được rửa tội, được giáo dục trong đức tin Công giáo.

- Ðối với hôn nhân khác Giáo hội (giữa một người Công giáo và một Kitô hữu thuộc Giáo hội khác), "forma canonica" không chỉ để hợp pháp (ad liceitatem) nhưng cũng để thành sự (ad validitatem). Theo tiến trình của các Thượng Hội đồng giám mục, tài liệu đúc kết được đệ trình Ðức Thánh Cha để tùy ngài quyết định.

7. Tự sắc Matrimonia mixta (Hôn nhân hỗn hợp) của Ðức Phaolô VI

Ngay sau khi Thượng hội đồng Giám mục 1967 kết thúc, tháng 03 năm 1968, Ðức Phaolô VI đã thành lập một Ủy ban gồm các Hồng y đứng đầu các bộ để tiếp tục nghiên cứu các chất liệu đã được Thượng hội đồng đúc kết liên quan đến hôn nhân hỗn hợp. Cuối năm 1969, bản thảo của tài liệu được trình lên Ðức Thánh cha và sang đầu năm 1970, tài liệu được ngài chuyển lại cho ủy ban các Hồng y với một số nhận xét. Ngày 31 tháng 03 năm 1970, tài liệu đã được Ðức Phaolô VI chính thức công bố.

Ðây là văn kiện về hôn nhân hỗn hợp quan trọng nhất. Bộ Giáo luật mới (1983) hầu như lấy lại hoàn toàn những hướng dẫn của văn kiện nầy.

Văn kiện gồm một phần giáo lý và một phần về các hướng dẫn có tính cách kỷ luật. Trong phần thứ nhất, tự sắc trình bày hôn nhân dưới khía cạnh luật tự nhiên và luật Chúa. Về luật tự nhiên, hôn nhân đem đến sự an bình và hoà hợp trong đời sống gia đình, trong khi luật Chúa đòi buộc người Công giáo trung thành với đức tin và trách nhiệm giáo dục đức tin cho con cái.

Hôn nhân giữa một người Công giáo và một người đã được rửa tội trong một Giáo hội Kitô khác là một bí tích đích thực, nhưng không hợp pháp nếu không có thẩm quyền của Giáo hội liên hệ nhìn nhận. Hôn nhân giữa một người Công giáo và một người chưa rửa tội là vô hiệu nếu không có phép chuẩn. Cả tự sắc Matrimonia mixta lẫn bộ Giáo luật 1983 đều không nói gì về tính cách bí tích của hôn nhân nầy.

Tuy có sự phân biệt giữa những hôn nhân hỗn hợp khác nhau xét theo như là một người Công giáo kết hôn với một Kitô hữu thuộc một trong những Giáo hội Kitô hay với một người chưa lãnh nhận bí tích Rửa tội, do đó ngăn trở và phép chuẩn cũng khác nhau, nhưng tự sắc dùng một từ ngữ duy nhất là "Matrimonia mixta".

Những điều kiện để được chuẩn nhận là:

- Bên Công giáo phải tuyên bố sẵn sàng xa lánh mọi nguy cơ làm phương hại đức tin, và thành thật hứa sẽ làm hết mọi sự có thể để con cái được rửa tội và giáo dục trong đức tin Công giáo.

- Vào lúc thuận lợi, phải cho bên không Công giáo biết những lời hứa mà người bạn Công giáo phải giữ, để chính họ được thực sự ý thức về lời hứa và bổn phận của bên người bạn Công giáo.

- Cả hai bên phải được hướng dẫn về các mục đích và căn tính của hôn nhân Công giáo, và không bên nào được loại bỏ các điều ấy.

Ngoài ra tự sắc không đề cập đến những hình phạt như trước đây. Những điều kiện để được chuẩn trong hôn nhân hỗn hợp theo tự sắc Matrimonia mixta - và sau nầy bộ Giáo luật 1983 đã lặp lại -, được xem như một hình thức lặp lại lời tuyên xưng đức tin và xác tín ơn gọi, chứ không phải chấp nhận những luật lệ của Giáo hội đề ra. Lời tuyên xưng đức tin và xác tín ơn gọi gồm:

- Một lời tuyên xưng tránh xa những hiểm nguy mất đức tin. Ở điểm nầy, luật Chúa - chứ không phải luật Giáo hội - xác định một đòi hỏi tuyệt đối, không ai có quyền miễn chuẩn.

- Một lời hứa chân thành cố gắng hết sức có thể để giáo dục con cái trong đức tin Công giáo. Vì là một lời hứa nên nó không hoàn toàn tùy thuộc vào hậu quả, một đàng nó không ngăn trở trong những trường hợp mà luật dân sự, tập tục địa phương hay bất cứ lý do gì, không cho phép giáo dục đức tin Công giáo cho con cái, đàng khác nó không vi phạm luật Chúa vì đã không chu toàn trách nhiệm của cha mẹ Công giáo.

Tự sắc Matrimonia mixta cũng như bộ Giáo luật 1983 không đưa ra một đòi hỏi nào đối với phía người không Công giáo, không hứa cũng không tuyên bố điều gì, kể cả việc ngăn cản con cái được giáo dục trong đức tin Công giáo. Bởi vì một người không Công giáo, theo tiếng lương tâm, có quyền giáo dục con cái theo niềm tin riêng của mình. Ðiều nầy phù hợp với quan niệm tự do lương tâm mà Công đồng Vaticanô II đề cao. Không có một động lực nào có thể ép buộc một người làm ngược với lương tâm của mình.

Nói cách khác, phép chuẩn cho hôn nhân hỗn hợp theo tự sắc Matrimonia mixta cũng như theo bộ Giáo luật hiện hành, không nhấn mạnh tính cách bó buộc dưới khía cạnh luật pháp, nhưng có một đòi hỏi luân lý nghiêm trọng hơn đối với phía người Công giáo. Trước tự do của tình yêu mà họ lựa chọn và tự do lương tâm mà mỗi người phải thể hiện, khác biệt tín ngưỡng là một thách đố và hiểm nguy lớn không chỉ cho đức tin của người Công giáo mà cả cho hạnh phúc lâu dài của hôn nhân của họ.

II. MỘT VÀI KHÍA CẠNH MỤC VỤ

Trước khi bàn khía cạnh mục vụ, thiết tưởng cần nêu lên một vài quan niệm không đúng đắn về hôn nhân :

1. Luật Giáo hội càng ngày càng rộng!?: Nhiều người nghĩ rằng Giáo hội càng ngày càng thích nghi với hoàn cảnh xã hội nên nới rộng những bó buộc. Những điều ngày trước cấm dần dần ngày nay cho phép.
Thực ra cũng có những yếu tố Giáo hội cần phải thích nghi theo tiến trình xã hội, nhưng đừng quên rằng Giáo hội có trách nhiệm trung thành với những gì Chúa Kitô đã dạy. Nói cách khác, Giáo hội không thể thay đổi luật Chúa. Liên quan đến hôn nhân hỗn hợp, luật Chúa đòi buộc người Kitô hữu trung thành với đức tin và lãnh trách nhiệm giáo dục đức tin cho con cái. Kỷ luật về hôn nhân hỗn hợp có thay đổi, nhưng đòi hỏi nầy không thay đổi. Chính vì thế lời tuyên xưng tránh xa mọi hiểm nguy đến đức tin, và cam kết làm hết sức có thể để giáo dục đức tin cho con cái, là điều kiện tuyệt đối để Giáo hội nhìn nhận một hôn nhân hỗn hợp.

2. Mọi hôn lễ khi được Giáo hội cho phép cử hành trong nhà thớ, nhất là được cử hành trong thánh lễ, đều như nhau. Nhiều người công giáo Việt nam có khuynh hướng hiểu cử hành hôn lễ theo cách thức được cử hành, nghĩa là khi được cử hành công khai và trong thánh lễ thì gọi là "õphép cưới"õ, ngược lại cử hành không có thánh lễ thì gọi là "phép giao". Cả bộ Giáo luật cũ (1917) và bộ Giáo luật mới (1983) không phân định và dùng tên gọi khác nhau về các cử hành hôn lễ như trên. Khía cạnh mục vụ chi phối cách cử hành, nghĩa là, một hôn lễ có thể cần cử hành kín để tránh gương xấu. Ngày nay, một đàng khía cạnh "õgương xấu"õ không ảnh hưởng nghiêm trọng, một đàng hôn nhân là bí tích phục vụ cộng đoàn nên cần được cử hành công khai giữa cộng đoàn. Tuy nhiên, nếu với hình thức cử hành bên ngoài như nhau, thì thực chất có sự khác biệt:

. Một hôn lễ được cử hành giữa hai người đã được rửa tội là bí tích hôn nhân đích thực;
. Một hôn lễ được cử hành giữa một người Công giáo và một người chưa rửa tội là một hôn ước thành sự nhưng không hẳn là một bí tích. Phép chuẩn là để phía người Công giáo có thể kết hôn thành sự và chu toàn giữ luật Chúa, nếu không, hôn nhân đó vô hiệu, chiếu theo khoản luật 1086.

Kể từ tự sắc Matrimonia mixta (1967) của Ðức Phaolô VI ban hành, từ ngữ"õhôn nhân hỗn hợp" chỉ chung mọi hôn nhân khác biệt tôn giáo mà một bên là Công giáo. Cách hiểu chung như vậy làm giảm đi khía cạnh mục vụ của từng loại hôn nhân hỗn hợp với tính cách khác biệt của các tôn giáo. Hơn nữa, Giáo luật và các giáo huấn của Giáo hội liên quan đến hôn nhân hỗn hợp nhắm nhiều đến hôn nhân giữa người Công giáo và Kitô hữu thuộc một giáo hội khác, hơn là hôn nhân giữa một người Công giáo và một người chưa rửa tội. Trước hết chúng ta cần rút ra một số điểm mục vụ chung và áp dụng riêng cho hôn nhân hỗn hợp giữa một người Công giáo và một người chưa rửa tội, trường hợp thường gặp nơi người Việt nam.

1. Mục vụ chuẩn bị cho hôn nhân Kitô giáo

a. Gia đình là tế bào, là hạt nhân Giáo hội đầu tiên, vì thế mục vụ hôn nhân luôn là mối bận tâm lớn đối với các chủ chăn của Giáo hội. Giáo luật khoản 1063 nhấn mạnh đến việc giáo dục giới trẻ hướng đến hôn nhân Kitô giáo. Việc giáo dục nầy không chỉ nhằm đến lớp dự bị hôn nhân, nhưng trong gia đình, trong chương trình giáo lý, trong việc giảng dạy và qua các phương tiện truyền thông, ý nghĩa, trách nhiệm và sự thánh thiện của hôn nhân Kitô giáo luôn phải được đề cập đến. Các bạn trẻ Kitô giáo phải được hướng dẫn lựa chọn người bạn trăm năm "õđể hiệp thông đời sống và tình yêu"õ trong giao ước hôn nhân. Trong cuộc sống hiệp thông đó, chiều kích tinh thần, thiêng liêng, tín ngưỡng chiếm một chỗ rất quan trọng. Chính nhờ hướng dẫn như thế, các bạn trẻ nhận ra sự hỗn hợp tôn giáo có những thử thách và khó khăn nghiêm trọng, nhiều khi đưa đến bế tắc trong mối hiệp thông đời sống và tình yêu. Kỷ luật hôn nhân hiện hành của Giáo hội xem ra có vẻ dễ dàng để người Công giáo kết bạn với người không Công giáo, tuy nhiên đừng quên rằng Giáo hội luôn lưu ý hôn nhân hỗn hợp là một trở ngại lớn cho đời sống đức tin Kitô giáo.

b. Phép chuẩn cho hôn nhân hỗn hợp không đòi buộc gì đối với phía không Công giáo về khía cạnh đức tin, tuy nhiên đòi họ phải chấp nhận những giá trị của hôn nhân Kitô giáo: đơn hôn, bất khả phân ly, sinh sản và giáo dục con cái. Ðúng ra, đây không chỉ là nền tảng của hôn nhân Kitô giáo nhưng là nền tảng của hôn nhân tự nhiên, là qui luật và khát vọng của tình yêu nam nữ hướng đến đời sống gia đình. Linh mục hướng dẫn một hôn nhân hỗn hợp không chỉ trình bày mục đích và các đặc tính của hôn nhân Kitô giáo, nhưng còn phải xác nhận câu trả lời rõ ràng của phía người không Công giáo chấp nhận mục đích và các đặc tính đó, như điều kiện để được phép chuẩn.

c. Các đôi hôn nhân hỗn hợp thường chỉ nghĩ đến việc hoàn tất thủ tục xin phép chuẩn để cử hành hôn lễ, nhưng ít quan tâm đến mục đích của cử hành hôn nhân Kitô giáo là xây dựng hạnh phúc hôn nhân trên những giá trị nhân bản và thuận với đạo đức Kitô giáo. Linh mục phụ trách hướng dẫn cho đôi bạn cử hành hôn nhân hỗn hợp không chỉ hướng dẫn thủ tục xin phép chuẩn, nhưng điều quan trọng là giúp đôi bạn, đặc biệt cho phía người Công giáo, xác tín những mời gọi sống đức tin Kitô giáo qua việc lãnh nhận các bí tích, trách nhiệm giáo dục nhân bản và đạo đức Kitô giáo, cũng như tính hiệp thông trong đời sống Giáo hội. Tất cả những điểm nầy tuy hàm chứa trong điều kiện của phép chuẩn, nhưng cần phải được trình bày như một chuẩn bị cần thiết cho công cuộc Phúc âm hóa nơi môi trường truyền giáo là gia đình họ sắp gầy dựng. Nếu thiếu những xác tín nầy nơi người bạn Công giáo thì nên hoãn lại việc tiến hành hôn lễ, vì không có lý do để chuẩn miễn, bởi phép chuẩn nhằm giúp phía ngườøi Công giáo sống đức tin, chứ không chỉ để cho được việc là có thể kết hôn.

2. Cử hành hôn lễ

Khoản 39-40 của sắc lệnh "õOrdo celebrandi matrimonium"õ của bộ Phượng tự ấn định: "õHôn nhân hỗn hợp được cử hành theo Nghi thức không có thánh lễ. Với phép đặc biệt của giáo quyền sở tại, hôn lễ đó có thể được cử hành trong thánh lễ theo như các khoản 19-38 qui định"õ.

Việc cử hành hôn nhân hỗn hợp theo như qui định trên không nhằm tính cách trọng thể, nghĩa là không phải cử hành trong thánh lễ trọng hơn cử hành không có thánh lễ, nhưng vì xét theo khía cạnh bí tích và mục vụ, đồng thời để tôn trọng cảm thức và tự do tôn giáo của cả đôi bên.

a. Xét về khía cạnh bí tích, trước hết, bí tích Thánh thể là cử hành niềm tin cao trọng nhất của Kitô giáo, không phải là nghi thức bổ sung cho hôn lễ thêm phần long trọng. Việc cử hành hôn nhân hỗn hợp trong thánh lễ chỉ có thể chấp nhận trong trường hợp, nếu người bạn không Công giáo, tuy không chia sẻ niềm tin Kitô của bạn mình, nhưng ít ra cũng thành tâm tôn trọng niềm tin đó và nhìn nhận giá trị linh thiêng của cử hành Thánh lễ nơi niềm tin đó. Ngược lại, với trường hợp người bạn không Công giáo không có một ý thức nào về cử hành Thánh lễ, thì việc cử hành hôn nhân hỗn hợp trong thánh lễ chỉ là "õcớ vấp phạm"õ.

b. Xét về khía cạnh mục vụ, phải quan tâm xem xét cách thức cử hành nào đem lại lợi ích cho đôi hôn phối cũng như cộng đoàn tham dự. Không hẳn lúc nào cử hành hôn nhân hỗn hợp trong thánh lễ cũng lợi ích hơn. Ngược lại, chính việc cử hành không có thánh lễ có thể giúp cho người bạn Công giáo ý thức mãnh liệt hơn khía cạnh bí tích và đời sống đức tin mà hôn nhân của họ luôn có nguy cơ hụt mất. Ðồng thời cũng là cơ hội mời gọi những người tham dự quan tâm đến hôn nhân Kitô giáo, một hôn nhân đặt nền tảng trên bí tích Rửa tội. Hôn nhân khác tín ngưỡng thiếu hụt nền tảng căn bản nầy nên có thể gây nihều khó khăn và hiểm nguy cho đời sống gia đình.

c. Thường thì phía người Công giáo muốn được cử hành hôn ước trong thánh lễ, nhưng vì tiến tới hôn nhân với người bạn không cùng tín ngưỡng, người Công giáo nầy phải tôn trọng tự do và cảm thức tôn giáo của bạn mình. Như đã đề cập ở trên, cho dẫu lễ nghi được cử hành như thế nào, hôn nhân giữa một người Công giáo và một người chưa rửa tội, không thể xem ngang hàng với hôn nhân giữa hai người đã rửa tội. Khi chấp nhận kết hôn với một người chưa rửa tội, người bạn Công giáo đành phải chấp nhận tình trạng hôn nhân có điều kiện của mình. Ðiều kiện đó là phép chuẩn. Phép chuẩn không chỉ cho phép khế ước hôn nhân của họ thành sự và phía người Công giáo có thể sống hiệp thông đời sống ân sủng với Giáo hội, nhưng phép chuẩn cũng xác nhận tự do tôn giáo của người không Công giáo. Người bạn Công giáo và gia đình không thể dùng áp lực để quyết định mọi nghi lễ, dù là nghi lễ đó được cử hành trong nhà thờ Công giáo. Cho dù việc cử hành nghi thức hôn nhân theo nghi lễ Công giáo là điều kiện tối thiểu để hôn nhân thành sự, nhưng trong trường hợp người bạn không Công giáo không tha thiết đến nghi lễ Công giáo thì tốt nhất, nên cử hành hôn nhân hỗn hợp đó ngoài Thánh lễ. Việc cử hành hôn nhân trong Thánh lễ trong trường hợp nầy vừa không tôn trọng bí tích Thánh thể, như đã đề cập ở trên, vừa thiếu tôn trọng tự do và tâm thức tôn giáo của phía người không Công giáo.

3. Mục vụ cho những đôi bạn sống trong hôn nhân hỗn hợp

Giáo hội là cộng đồng hiệp thông trong cùng một niềm tin. Khi một phần tử trong cộng đoàn nhận phép chuẩn để sống trong hôn nhân hỗn hợp, họ đồng thời phải chấp nhận không ngừng đương đầu với những nguy hiểm ảnh hưởng đức tin. Những khó khăn và nguy hiểm cho đời sống đức tin không chỉ xuất hiện nơi riêng những đôi vợ chồng nầy, nhưng cũng ảnh hưởng đến đời sống cộng đoàn.

Ðối với các đôi bạn đang sống trong hôn nhân hỗn hợp, công việc mục vụ của cộng đoàn Kitô giáo là giúp cho phía người Công giáo sống đức tin, chu toàn trách nhiệm giáo dục đức tin cho con cái trong sự hiệp nhất của đời sống gia đình. Giáo luật khoản 1128 khuyên: "õGiáo quyền địa phương và các chủ chăn phải lo liệu cho người phối ngẫu Công giáo và con cái sinh ra do hôn phối hỗn hợp sự giúp đỡ về tinh thần hầu chu toàn mọi nghĩa vụ, đồng thời giúp đôi bạn bảo trì sự hiệp nhất của đời sống vợ chồng và đời sống gia đình"õ.

Ðể đạt mục đích trên, người phối ngẫu Công giáo đóng vai trò then chốt. Những đôi vợ chồng sống trong hôn nhân hỗn hợp thường có nhiều yếu tố để xa cách cộng đoàn. Ðây là nguyên do khiến đời sống đức tin và trách nhiệm giáo dục đức tin từ phía người Công giáo bị mất dần. Vì thế, việc nêu gương sống đức tin và đức ái trong gia đình chưa đủ, ngay từ thời gian đầu, người phối ngẫu Công giáo cần gắn bó với đời sống và sinh hoạt của cộng đoàn. Ngược lại, cộng đoàn cũng cần tạo cơ hội để việc gắn bó nầy có cơ hội phát triển. Những dịp lãnh nhận các bí tích, việc trung thành với thánh lễ ngày Chúa nhật, việc học giáo lý của con cái, tham gia các sinh hoạt chung trong cộng đoàn ... là những cơ hội tốt để nếp sống đức tin được bám rễ trong gia đình.

Nếu gắn bó với đời sống của cộng đoàn là yếu tố chính để người phối ngẫu Công giáo phát triển đời sống đức tin, thì tình trạng của mảnh đất nầy cũng là yếu tố quan trọng không kém. Nơi một cộng đoàn có nhiều đôi vợ chồng sống trong hôn nhân hỗn hợp, những gương xấu trong đời sống thiếu bác ái thường rất dễ là lý do khiến các đôi vợ chồng nầy xa dần mối dây hiệp thông với cộng đoàn. Hôn nhân hỗn hợp là một nguy cơ, nhưng cũng là một cơ hội để cộng đoàn Kitô giáo sống triệt để hơn ơn gọi của mình.

 

 


This article was published on Monday 14 December, 2009.

Back to main topic: HỌC HỎI
ĐỔ VỞ TRONG GIA Đ̀NH
KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI SỐNG GIA Đ̀NH
ĐỨC TIN VÀ SỰ CHUNG THỦY
HIỆP NHẤT TÔN GIÁO NƠI GIA Đ̀NH
HIỆP NHẤT TRONG LƯ TƯỞNG
VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH TRONG HÔN NHÂN
GIÁO DỤC CON CÁI
VAI TR̉ NGƯỜI CHỒNG TRONG GIA Đ̀NH
VAI TR̉ NGƯỜI VỢ TRONG GIA Đ̀NH
MỘT TƯ TƯỞNG B̀NH DÂN VỊÊT NAM VN
CHỮ T̀NH VÀ CHỮ YÊU
GIA Đ̀NH VỊÊT NAM QUA BỮA ĂN
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.4
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.3
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P. 1
MỤC ĐÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN
TU ĐỨC TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA Đ̀NH
SỐNG ĐẠO TRONG GIA Đ̀NH
MƯỜI ĐIỀU BẢO VỆ HẠNH PHÚC GI
NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ TAN VỠ TRONG GIA
HÔN NHÂN TRONG Ư CHÚA
LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG B̀NH THƯỜN
T̉A ÁN HÔN PHỐI
NHỮNG NGĂN TRỞ KHIẾN MỘT HÔN PHN
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
ĐẶC ÂN THÁNH PHAOLÔ

Current Reviews: 0
Write Review
Tell a friend
Tell a friend about this article:  

 
 

Articles
New Articles
All Articles
All Topics
 ABOUT FR. LINH
 ENGLISH -> (266)
 ESPAÑOL -> (274)
 TIẾNG VIỆT -> (540)
 H.Y. NG. VĂN THUẬN
 Đ.C. NG. VĂN NHO
Articles RSS Feed

Quick Find