Top » TIẾNG VIỆT » HỌC HỎI » MỤC ĐÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN
MỤC ĐÍCH VÀ ĐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN

MỤC ÐÍCH VÀ ÐẶC TÍNH CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN

Ðức Ông Mai Ðức Vinh, Paris

 

I. Ý NIỆM VỀ BÍ TÍCH

1. Ý niệm chung về các Bí Tích

Bí Tích là dấu bên ngoài để chỉ ơn Chúa ban bên trong hầu giúp ta nên thánh.

Có bảy Bí Tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Sám Hối, Xức Dầu Bệnh Nhân, Truyền Chức và Hôn Phối.

Chúa Giêsu là người thiết lập các Bí Tích, Giáo Hội chỉ có quyền ban hành các Bí Tích thôi.

Các Bí Tích có thể phân biệt:
1) Bí tích kẻ chết (Rửa Tội, Sám Hối, Xức Dầu) và bí tích kẻ sống (Thêm Sức, Mình Thánh, Truyền Chức, Hôn Phối);
2) Bí tích chỉ chịu một lần (Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức) và bí tích được chịu nhiều lần (Mình Thánh, Sám Hối, Xức Dầu, Hôn Phối).

Bảy Bí Tích quan hệ đến tất cả các giai đoạn và các giờ phút quan trọng của đời sống người kitô hữu : Bí tích thai sinh (Rửa Tội), tăng trưởng (Thêm Sức, Thánh Thể), chữa lành (Sám Hối, Xức Dầu) và trao sứ mạng (Truyền Chức, Hôn Phối). Nhờ lãnh nhận các bí tích, người kitô hữu sống vững và tuyên chứng đức tin.

Xem GL 834-848; GLCG 1210-1211.

2. Ý niệm riêng về bí tích Hôn Phối

Hôn phối trước tiên là một giao ước hay một khế ước được tự do ký kết giữa một người nam và một người nữ và có giá trị trọn đời của cả hai người.

Chúa Giêsu là người đã nâng giao ước hôn phối lên hàng Bí Tích hầu giúp đôi bạn nên thánh. (Ðọc Phúc âm Mt 19,3-6).

Hôn phối được định nghĩa là "một cộng đồng đích thực về sự sống và tình yêu đúng như Giáo Hội Công Giáo vì trung thành với Ðức Kitô mà chủ trương" (Véritable communauté de vie et d'amour, telle que l'entend l'Eglise catholique dans sa fidélité au Christ)

Xem GL 1055; GLCG 1601-1604.

II. MỤC ÐÍCH CỦA HÔN PHỐI

. Tự bản tính, hôn phối hướng về 1) ích lợi tinh thần và thể xác của đôi bạn - 2) bổn phận sinh dưỡng và giáo dục con cái (GL 1055).

1. Ích lợi tinh thần

Ðể đạt được và làm phát triển dồi dào những ích lợi tinh thần trong đời sống lứa đôi, đôi bạn phải ý thức và xác tín rằng:

1) Tình yêu của đôi bạn là tình yêu thánh thiện (amour sacré), tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa.

2) Bước vào đời sống hôn nhân là đôi bạn tự do chọn lựa một ơn gọi "sống hạnh phúc và thánh thiện trong đời sống gia đình".

3) Sự thánh thiện và hạnh phúc của đôi bạn, của gia đình trực tiếp ảnh hưởng đến hạnh phúc và sự thánh thiện của Giáo Hội và nhân loại.

4) Vì thế Giáo Hội luôn cầu nguyện cho các đôi bạn, đề cao tình yêu và hạnh phúc gia đình, nhắc nhủ đôi bạn sống lương thiện và nên thánh.

5) Yêu nhau là đôi bạn "chịu trách nhiệm về nhau toàn diện" không nguyên về đời sống thể xác và vật chất, mà cả đời sống tinh thần, đạo đức và luân lý.

6) Chịu trách nhiệm về nhau có nghĩa là mỗi ngày vợ chồng phải cầu nguyện cho nhau, cho tình yêu của hai người; vợ chồng phải biết xây dựng lẫn nhau, sửa lỗi và chỉ dẫn cho nhau, khích lệ nhau làm điều tốt.

7) Vợ chồng cần biết "dẹp tự ái" để lắng nghe nhau, phải biết nói lời "cám ơn" hay "xin lỗi" nhau.....

Tóm lại, hãy sống lời dạy của thánh Phaolô: "Anh chị là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, những người thánh thiện và được yêu thương. Anh chị hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và hãy tha thứ cho nhau, nếu người này có chuyện phải oán trách người kia. Như Chúa đã tha thứ cho anh chị, anh chị cũng hãy tha thứ cho nhau. Trên hết mọi sự, anh chị hãy có đức yêu thương, đó là giây ràng buộc mọi điều toàn thiện. Nguyện xin bình an của Ðức Kitô làm chủ trong lòng anh chị, sự bình an mà anh chị đã được kêu gọi tới hưởng thụ để làm nên một thân thể .. (
Col 3,12-15)

2. Ích Lợi về thể xác

Tình yêu của đôi bạn là tình yêu thánh thiện, nhưng đồng thời cũng là tình yêu nhân bản (Amour humain), tình yêu giữa một người với một người. Nói khác, tình yêu của đôi bạn phải được bày tỏ ra qua những thể thức của con người bình thường. Vì thế, đời sống sinh lý, và những cử chỉ hôn nhau, vuốt ve nhau, làm tình với nhau ... là những điều hợp pháp (légitime), cần thiết (indispensable) và công phúc (méritoire). Ðừng coi thường đời sống sinh lý vợ chồng. Ðây là vấn đề rất quan trọng, rất tế nhị của đời sống lứa đôi. Mỗi người phải đọc một vài cuốn sách nói về "tâm sinh lý" của vợ chồng để biết hiểu nhau, kính trọng nhau, chia sẻ cho nhau và biết hiến thân cho nhau làm sao cho đúng.

Chúng ta hãy đọc ở đây lời giáo huấn của Công Ðồng Vatican II: "Tình yêu vợ chồng cao cả, vì từ một nhân vị hướng đến một nhân vị khác bằng một tình cảm tự nguyện, do đó bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người. Nên tình vợ chồng có thể lồng vào những biểu lộ của thể xác và tâm hồn một phẩm giá đặc biệt, và khiến chúng trở nên cao qúy như những yếu tố và dấu hiệu đặc thù của tình yêu đôi bạn. Bởi một ân huệ đặc biệt của ân sủng, và của tình lân mẫn, Chúa đã đoái thương chữa trị, cải thiện và nâng cao tình yêu đôi bạn. Một tình yêu kết hợp yếu tố nhân loại với yếu tố thần linh, như thế phải thấm nhuần vào cả đời sống và hướng dẫn đôi bạn biết tự do trao hiến cho nhau, qua những tâm tình và cử chỉ trìu mến. Hơn nữa, chính nhờ những hành vi quảng đại của mình mà tình yêu giữa hai người được trọn vẹn và lớn thêm. Tình yêu vợ chồng do đó vượt xa xu hướng nhục dục thuần túy, và xu hướng này, nếu được tôn thờ một cách ích kỷ, sẽ mau tan biến và kéo theo những hậu quả thảm hại. Sự âu yếm trên được biểu lộ và hoàn hảo cách đặc biệt qua những động tác riêng của hôn nhân. Bởi vậy, những hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng đều cao qúy và chính đáng. Ðược thi hành cách thật sự nhân linh, những hành vi ấy biểu hiện và khích lệ sự trao hiến hỗ tương, nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong hoan lạc và biết ơn nhau.... (MV 49)

3. Sinh dưỡng và giáo dục con cái

Tâm lý bình thường, đôi bạn nào cũng muốn tình yêu của mình là tình yêu phong nhiêu (Amour fécond), nghĩa là muốn có con. Gia đình không con như lồng không chim. Vì thế con cái là kết tinh của tình yêu vợ chồng, là tương lai của lứa đôi, là hồng ân và phúc lộc Chúa ban. Trời có cho mới được. Tuy nhiên không thiếu gì những trường hợp "bất thường", cha mẹ coi con như một gánh nặng, một của nợ, một sự chẳng đặng đừng ... Ðôi bạn đừng quên rằng, ngay từ đầu Thiên Chúa đã nói với loài người "hãy sinh con cái cho đầy mặt đất" (St 2,28), và địa vị cao cả của những người theo ơn gọi gia đình là trở thành những người cộng tác với Chúa trong việc truyền sinh, tức là việc tiếp tục tạo dựng con người. Tự nó "việc vợ chồng hiến thân cho nhau phải hướng về mục đích sinh sản con cái". Ðó là lý do tại sao Giáo Hội khuyến khích vợ chồng đón nhận con cái (J'accepte les enfants qui pourront naitre de notre union).

Tuy nhiên, không phải là quyền hạn hay bổn phận Giáo Hội ấn định cho đôi bạn phải sinh mấy đứa con, hoặc sinh theo nhịp độ hai năm hay ba năm một đứa.

Việc có con hay không, có bao nhiêu đứa, khi nào có con, là quyền lợi và bổn phận của đôi bạn. Giáo Hội chỉ hướng dẫn, nhắc nhở. Ðôi bạn phải lãnh nhận lấy trách nhiệm và quyền lợi của mình với MỘT LƯƠNG TÂM CÓ TRÁCH
NHIỆM (une conscience responsable). Nghĩa là để quyết định sinh con hay không sinh con, đôi bạn phải cầu nguyện, cùng nhau suy nghĩ đắn đo, đối chiếu với Giáo Huấn của Giáo Hội và dựa trên những điều kiện thực tế của bản thân, của gia đình và của xã hội mà đôi bạn đang sống.

Trong số 10 của thông điệp "Sự Sống và Con Người" (Humanae Vitae), Ðức Phaolô VI nhấn mạnh "lương tâm trách nhiệm" này, và Ngài cắt nghĩa: "Lương tâm có trách nhiệm ",

1) theo phương diện sinh lý, là tôn trọng lề luật của các tiến triển sinh lý (nó cũng thuộc về nhân vị);

2) theo phương diện chế ngự các xu hướng bản năng và dục vọng, là biết tự chủ theo lý trí;

3) theo phương diện hoàn cảnh kinh tế, tâm lý xã hội, là quyết định tùy theo hoàn cảnh cho phép thêm con hay không;

4) theo phương diện luân lý, là quyết định và thực hiện quyết định đó một cách thích hợp với nhiệm vụ đối với Chúa, đối với chính mình, đối với gia đình và xã hội.

5) theo phương diện kitô hữu, là cố trung thành với Giáo huấn của Giáo Hội về Hôn nhân. (xem "Công Ðồng Chung Vatican II", chú thích trg.804).

Từ đó, hai vấn đề cụ thể phải nói đến:

1. Vấn đề hạn chế sinh sản (contraception)

Theo giáo huấn của Công đồng Vatican II trong Hiến chế Mục Vụ "Niềm Vui và Hy Vọng" (Gaudium et Spes) số 51, chúng ta thấy:

1) Công đồng công nhận rằng: Vợ chồng muốn sống theo lý tưởng hôn nhân, nhiều lúc sẽ phải hạn chế số con. Nhưng không gần gũi nhau, hay chỉ theo chu kỳ của người vợ, có thể làm hại cho tình yêu nhau, do đó cũng làm hại cho đời sống hôn nhân và cho con cái nữa.

2) Vậy khi cần hạn chế sinh sản, có thể dùng phương pháp nào? Công Ðồng chỉ trả lời một cách đại cương mà thôi: Phải loại trừ phương pháp xấu xa như giết người, phá thai và giết trẻ em. Rồi Công Ðồng dạy nguyên tắc phải áp dụng trong việc chọn lựa phương pháp.

3) Ðiều kiện để chọn một phương pháp ngừa thai: a) Vợ chồng phải có ý ngay lành, tức là phải có LƯƠNG TÂM TRÁCH
NHIỆM. b) Phương pháp phải xứng hợp với các quy tắc khách quan về luân lý, nghĩa là phải tôn trọng giá trị của sứ mệnh lưu truyền sự sống và tôn trọng phẩm giá con người. c) Vợ chồng ý thức rằng "khiết tịnh hôn nhân là cần thiết". d) Vợ chồng phải cố trung thành với Giáo Huấn của Giáo Hội.

2. Vấn đề phá thai (avortement)

Phá thai là tội trạng đi ngược với sự sống (MV 51). Giết thai nhi khi chưa thành hình (chừng 6 tuần đầu) có lẽ không phải sát nhân (thần học cũng như khoa học chưa chắc về vấn đề thai nhi ấy đã sống do linh hồn nhân loại chưa), nhưng chắc chắn sự phá thai đó là giết mạng sống đã có đặc tính nhân loại. Hơn nữa, vì có lẽ đã có linh hồn nhân loại rồi, nên phá thai là liều lĩnh giết người và đó là một tội, và sát hại một kẻ không những hoàn toàn vô tội mà còn là đứa con của chính kẻ sát nhân. Dù trường hợp người mẹ lâm nguy, cũng không thể giết thai nhi để cứu mẹ, vì mạng sống của thai nhi cũng như của chính người mẹ là thuộc quyền của Chúa, không ai có quyền cất đi. Không bao giờ được phép làm sự dữ, dù với mục đích tốt lành. Chẳng may vì lý do nhiều vụ phá thai bất hợp pháp và làm trong hoàn cảnh thiếu cẩn thận (nhiều khi do người không phải là bác sĩ và thiếu phương tiện), nên nhiều quốc gia đã lập luật cho phép phá thai với một số điều kiện bảo đảm. Phải hiểu rõ là dù có luật như thế đi chăng nữa, "cho phép" chỉ có thể có nghĩa là luật pháp không coi vụ phá thai đó là tội trạng mà các tòa án phải trừng phạt, chứ không có nghĩa phá thai không phải là tội. Công Ðồng khẳng định: "Phá thai là tội ác đáng ghê tởm" (MV 27, 51). Vì thế Giáo Luật hiện nay quy định nghiêm khắc như sau:

Tất cả những ai thi hành việc phá thai và việc phá thai có kết quả, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết (Excommunicatio latae sententiae) (GL 1398) Vạ này không "dành riêng cho tòa thánh", Ðức Giám Mục giáo phận có quyền tha vạ này (GL 1355,2) và thường Ngài ủy quyền này cho các cha sở.

Những người phạm tội cố sát hoặc phá thai có hiệu quả và tất cả những người cộng tác tích cực vào các tội đó đều bị cấm: 1) không được chịu chức thánh (GL 1041,4), 2) không được hành xử các chức thánh đã lãnh nhận (GL 1044,3).

Chỉ mình Toà Thánh có quyền miễn chuẩn cho những người đã công khai hay kín đáo "phá thai có hiệu qủa hoặc cộng tác tích cực vào việc phá thai" để họ được chịu chức thánh (GL 1047,2/2). Trong đơn xin miễn chuẩn, đương sự phải khai rõ số lần đã phạm (GL 1049,2)

III. ÐẶC TÍNH CỦA HÔN PHỐI

Theo Phúc Âm thánh Matthêu, sau khi tuyên bố "Bởi lẽ đó, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ, và luyến ái người vợ của mình, và cả hai sẽ thành nên một huyết nhục, như thế họ không còn phải là hai, nhưng là một huyết nhục", Chúa Giêsu kết luận: "Vậy điều gì mà Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly" (Mt 19,4-6). Dựa vào đó, Giáo Luật điều 1056 quy định: "Những đặc tính căn bản của hôn phối là sự duy nhất bất khả phân ly. Nhờ tính cách Bí Tích, những đặc tính ấy được kiện toàn trong hôn phối Kitô giáo". Thực tế mà nói "hôn phối duy nhất" là "chỉ có một vợ một chồng" hay "nhất phu nhất phụ", và "hôn phối bất khả phân ly "là không "có vấn đề ly dị".

1. Nhất phu nhất phụ

Thiên Chúa đã ấn định đặc tính này của hôn nhân ngay trong việc sáng tạo loài người. Ngài chỉ dựng nên một Adong và một Eva, chứ không hai Adong và một Eva hay một Adong và hai Eva. Do đó "một vợ, một chồng là quy luật của Thiên Chúa". Luật này đã bị vi phạm rất nhiều lần, kể cả bởi các tổ phụ trong thời Cựu Ước. Ðức Kitô đã tái lập lại trật tự của thuở ban đầu và ban ơn thánh để giúp vợ chồng sống chung thủy với nhau. Nghịch với đặc tính "nhất phu nhất phụ" là "đa thê hay đa phu" hiện đang có ở nhiều tôn giáo, nhiều phần đất trên thế giới. Dân luật của nước Pháp chỉ chấp nhận chế độ "nhất phu nhất phụ" (xem bài của Ls Lê Ðình Thông).

2. Bất khả phân ly

Ðể trung thành với lệnh truyền của Chúa Giêsu "Ðiều mà thiên Chúa liên kết loài người không được phân ly", mỗi người trẻ sắp bước vào đời sống hôn nhân xác tín trong tờ "khai chí hướng" (Déclaration d'intention) rằng: "Với sự quyết tuyển tương hỗ này, tôi muốn thiết lập giữa hai chúng tôi một mối giây thánh mà trót đời chúng tôi, không một nguyên nhân nào có thể phá hủy. Tôi quyết tâm làm mọi cách để tình yêu của hai chúng tôi lớn mạnh trong sự chung thủy toàn diện". Nói một cách khác đôi bạn nhất trí chung thủy, sống với nhau trọn đời, không chấp nhận việc ly dị.

Không chấp nhận việc ly dị, đó là điều đã được khẳng định trong Giáo Luật điều 1141: "Hôn phối thành nhận và hoàn hợp không thể bị tháo gỡ bởi một quyền bính nhân loại hay một nguyên do nào khác ngoại trừ sự chết". Hôn phối thành nhận (conclu) là khi đôi bạn đã làm hôn thú, đã lãnh bí tích và hôn phối hoàn hợp (consommé) là sau ngày cưới, đôi bạn đã giao hợp với nhau.

Tại sao Giáo Hội không cho phép ly dị ?

Có nhiều lý do:

1) Trung thành với luật của Chúa, Ðấng đã dựng nên đôi vợ chồng đầu tiên, chỉ có một ông Adong và một bà Eva (xem St 2,21-23), và đã ấn định tính cách vững bền của hôn nhân khi truyền lệnh "Ðiều mà Thiên Chúa liên kết, loài người không được tháo gỡ" (Mt 19,6).

2) Bảo đảm hạnh phúc cho đôi bạn, bằng cách giúp đôi bạn giữ trọn lời đã giao ước với nhau. Quả vậy, sau những ngày tháng tìm hiểu, suy nghĩ và cầu nguyện, đôi bạn đã long trọng và công khai giao ước với nhau trong ngày lễ thành hôn, trước sự chứng giám của linh mục, hai nhân chứng và cả cộng đoàn. Người nam giao ước với người nữ : "Anh nhận em làm vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh". Người nữ cũng giao ước với ngừơi nam như vậy. Sống trọn lời giao ước đó mỗi ngày là chìa khóa tạo hạnh phúc cho nhau.

3) Bảo đảm hạnh phúc cho con cái của họ. Càng thương nhau, càng chung thủy với nhau, đôi bạn càng chung sức trong trách nhiệm "sinh dưỡng và giáo dục con cái". Kinh nghiệm thực tế minh xác điều đó.

Những điều trên đây được đúc kết trong giáo huấn của Công Ðồng Vatican II: "Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ ‘không còn là hai nhưng là một xương thịt’ (Mt 19,6) phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày mỗi đầy đủ hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly" (MV 48).

IV. TÓM KẾT

Như vậy, về phạm vi xã hội, hôn phối là một khế ước giữa một người nam và một người nữ đã tự do kết ứơc và do đó, có giá trị trọn đời của đôi bạn; về phạm vi giáo lý công giáo, hôn phối là một bí tích Chúa Giêsu đã lập và Giáo Hội ban hành để thánh hiến tình yêu vợ chồng và giúp đôi bạn hưởng trọn vẹn hạnh phúc và đảm nhận mọi trách nhiệm của hôn nhân. Ðôi bạn chỉ là vợ chồng thật trước mặt Giáo Hội khi hôn phối của đôi bạn được cử hành đúng theo luật dân sự và luật giáo hội. Theo giáo lý công giáo, mục đích của hôn phối là vợ chồng tương hỗ nhau về mọi phương diện trong đời sống tâm linh và sinh lý, tinh thần và vật chất, để nhờ đó, đôi bạn chung sức sinh, dưỡng và giáo dục con cái. Ðể đạt tới những mục đích trên, hôn phối công giáo mang hai đặc tính căn bản là "nhất phu nhất phụ" và "bất khả phân ly". Nói một cách khác, nếu tình yêu là yếu tố nền tảng của hôn phối thì tình yêu ấy mang bốn đặc tính căn bản: thánh thiện, nhân bản, chung thủy và phong nhiêu.

 


This article was published on Monday 14 December, 2009.

Back to main topic: HỌC HỎI
ĐỔ VỞ TRONG GIA Đ̀NH
KHỦNG HOẢNG TRONG ĐỜI SỐNG GIA Đ̀NH
ĐỨC TIN VÀ SỰ CHUNG THỦY
HIỆP NHẤT TÔN GIÁO NƠI GIA Đ̀NH
HIỆP NHẤT TRONG LƯ TƯỞNG
VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH TRONG HÔN NHÂN
GIÁO DỤC CON CÁI
VAI TR̉ NGƯỜI CHỒNG TRONG GIA Đ̀NH
VAI TR̉ NGƯỜI VỢ TRONG GIA Đ̀NH
MỘT TƯ TƯỞNG B̀NH DÂN VỊÊT NAM VN
CHỮ T̀NH VÀ CHỮ YÊU
GIA Đ̀NH VỊÊT NAM QUA BỮA ĂN
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 1
HÔN NHÂN KHÁC TÍN NGƯỠNG - PHẦN 2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.4
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.3
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P.2
NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI - P. 1
TU ĐỨC TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA Đ̀NH
SỐNG ĐẠO TRONG GIA Đ̀NH
MƯỜI ĐIỀU BẢO VỆ HẠNH PHÚC GI
NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ TAN VỠ TRONG GIA
HÔN NHÂN TRONG Ư CHÚA
LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG B̀NH THƯỜN
T̉A ÁN HÔN PHỐI
NHỮNG NGĂN TRỞ KHIẾN MỘT HÔN PHN
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
NHỮNG THẮC MẮC THÔNG THƯỜNG – PH
ĐẶC ÂN THÁNH PHAOLÔ

Current Reviews: 0
Write Review
Tell a friend
Tell a friend about this article:  

 
 

Articles
New Articles
All Articles
All Topics
 ABOUT FR. LINH
 ENGLISH -> (266)
 ESPAÑOL -> (274)
 TIẾNG VIỆT -> (540)
 H.Y. NG. VĂN THUẬN
 Đ.C. NG. VĂN NHO
Articles RSS Feed

Quick Find